Ngữ văn 10 KNTT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Minh Thanh
Ngày gửi: 11h:19' 31-07-2024
Dung lượng: 1'016.0 KB
Số lượt tải: 167
Nguồn:
Người gửi: Minh Thanh
Ngày gửi: 11h:19' 31-07-2024
Dung lượng: 1'016.0 KB
Số lượt tải: 167
Số lượt thích:
0 người
Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
BÀI 1 – SỨC HẤP DẪN CỦA TRUYỆN KỂ
Môn học: Ngữ Văn/Lớp: 10
Thời gian thực hiện: ….. tiết
A. TỔNG QUAN
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức
- Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện,
không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) trong
truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
- Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện,
không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) được thể
hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
- Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định
chủ đề của truyện kể nói chung và thần thoại nói
riêng
- Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông
điệp của văn bản truyện kể nói chung và thần thoại
nói riêng
2.1Về năng lực chung
- Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực
hợp tác, giải quyết vấn đề,….
2.2Về năng lực đặc thù
- Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân
tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của một tác phẩm truyện.
- Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội
dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
3. Về phẩm chất
Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão,
và thể hiện được trách nhiệm với cộng đồng
NỘI DUNG BÀI HỌC
Đọc
● Tri thức ngữ văn
● Truyện kể về các vị thần sáng tạo thế giới
● Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
● Chữ người tử tù
● Tê – đê (Trích Thần thoại Hi Lạp)
Thực hành Tiếng Việt
● Từ Hán Việt
Viết
● Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá tác
phẩm
Nói và nghe
● Giới thiệu về nội dung và nghệ thuật của một
tác phẩm
Củng cố mở rộng
● Ôn tập kiến thức về truyện kể
● Mở rộng kiến thức về truyện thần thoại.
B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
TIẾT 1. TRI THỨC NGỮ VĂN
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi
kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi kể,
nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
chung và thần thoại nói riêng
❖ Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông điệp của văn bản truyện kể
nói chung và thần thoại nói riêng
2. Về năng lực
❖ Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những
nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm truyện.
❖ Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một
tác phẩm truyện
❖ Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề,
….
3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
được trách nhiệm với cộng đồng
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV chuẩn bị câu hỏi khởi động: Em biết gì về truyện kể?
❖ Học sinh hoàn thành bảng K – W – L để tìm hiểu kiến thức về truyện kể
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Học sinh suy nghĩ và dự trù câu trả
lời
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh hoàn thiện phiếu K – W –
Phần chuẩn bị bài trình chiếu và phiếu của
giáo viên.
K
W
L
Điều con đã
Điều con
Điều con
biết
muốn biết
mong
L
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
muốn biết
thêm
Học sinh chia sẻ kiến thức đã biết
và mong muốn về bài học
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên dẫn dắt vào bài học: Tìm
hiểu truyện kể nói chung và đặc
biệt là thế giới thần thoại.
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian,
ngôi kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi
kể, nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói
riêng
❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
chung và thần thoại nói riêng
b. Nội dung thực hiện:
❖ Học sinh đọc phần “Tri thức ngữ văn” trong SGK và kết hợp đọc tài liệu bổ
trợ giáo viên đưa
❖ Học sinh thảo luận nhóm và thực hiện phiếu học tập để tìm hiểu về truyện kể
và thần thoại
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Phiếu học tập – Phụ lục 1
Giáo viên giao phiếu và chia lớp Phần chia sẻ của Học sinh
thành 4 nhóm theo dạng KHĂN
TRẢI BÀN
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thảo luận và hoàn thành
phiếu
I. Truyện kể
1. Sự kiện biến cố
- Để tìm hiểu về khái niệm SỰ KIỆN
(BIẾN CỐ) điều đầu tiên chúng ta cần phải
hiểu khái niệm về THẾ GIỚI NGHỆ
Thời gian: 10 phút
THUẬT
Chia sẻ: 3 phút
- THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT - là một thế
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
Bước 4. Kết luận, nhận định
giới kép gồm thế giới được miêu tả và thế
giới miêu tả.
+ Thế giới được miêu tả là nhân vật sự
kiện, cảnh vật,….
+ Thế giới miêu tả là thế giới của người kể
chuyện, người trữ tình
Giáo viên chốt những kiến thức cơ Hai thế giới này luôn gắn liên chặt chẽ với
bản về truyện kể
nhau, có thể hiểu khái niệm thế giới nghệ
thuật chính là gồm hai yếu tố: Thế giới, nội
dung trong câu chuyện và Thế giới mà
người kể chuyện đang tồn tại, sinh sống
Thế giới nghệ thuật gồm có yếu tố: không
gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
- THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT văn học là
một thế giới hình tượng vận động và mang
ý nghĩa. Hình tượng mang ý nghĩa ấy xuất
hiện và lớn dần qua các SỰ KIỆN và LỜI
TRẦN THUẬT
- Nội dung biểu hiện chủ yếu của văn bản
văn học là NHÂN VẬT và SỰ KIỆN
(BIẾN CỐ). Mỗi hành động có cả một
chuỗi các chi tiết
- Tuy nhiên, cần lưu ý khái niệm sự kiện,
không phải hành động nào cũng được coi là
sự kiện, sự kiện phải là hành vi (việc làm
của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với
nhân vật dẫn đến hậu quả, làm biến đổi hay
bộc lộ ý nghĩa nào đó)
Ví dụ: Sự kiện Cám và Tấm đi bắt tép bao
gồm một chuỗi các chi tiết: Cám lừa Tấm
đi gội đầu, Cám trút giỏ tép của Tấm sang
giỏ của mình, Cám được cái yếm đỏ,…Sự
kiện này mang đến ý nghĩa: Không phải vì
Cám ham mê chiếc yếm đỏ (bởi Cám đâu
có thiếu thốn gì?) mà chính sự kiện này đã
nhấn mạnh sự đối nghịch giữa Tấm và Cám
giữa hai phe thiện và ác mà mục đích của
tác giả dân gian trong truyện Cổ tích là phải
làm sao để nổi bật sự đối nghịch giữa hai
phe.
2. Cốt truyện
- Khái niệm: Cốt truyện trong tác phẩm tự
sự (thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn,
tiểu thuyết,…) và kịch được tạo nên bởi
chuỗi sự kiện, nằm dưới lớp vỏ trần thuật,
làm nên cái sườn của tác phẩm.
- Tính chất cốt truyện: Cốt truyện có hai
tính chất cơ bản
+ Các sự kiện trong chuỗi có mỗi quan hệ
nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa, có
mở đầu và có kết thúc
+ Cốt truyện có tính liên tục về thơi gian.
Giữa các sự kiện nhân quả nói trên có
những khoảng cách thời gian. Các khoảng
cách thời gian ấy tạo thành “không gian”
quan trọng để tác giả miêu tả, phân tích,
bình luận
- Chức năng cốt truyện: Thực hiện chức
năng rất quan trọng trong truyện kể
+ Gắn kết các sự kiện thành một chuỗi, tạo
thành lịch sử của một nhân vật, thực hiện
việc khắc họa nhân vật
+ Bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con
người (xã hội, tâm lí, đạo đức…), tái hiện
bức tranh đời sống
+ Tạo ra ý nghĩa nhân sinh có giá trị nhận
thức
+ Gây hấp dẫn cho người đọc (người đọc
luôn quan tâm đến số phận nhân vật)
3. Người kể chuyện
NGƯỜI KỂ CHUYỆN (người trần thuật)
là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là vai
do nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện
hành vi trần thuật. Người kể chuyện có thể
được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ hai
hoặc ngôi thứ nhất
+ Ngôi thứ nhất: Người kể xưng “tôi”, nội
dung kể không xâm phạm ra ngoài phạm vi
hiểu biết, cảm nhận của người kể
+ Ngôi thứ hai: Hiếm gặp, thường mượn
vai bạn đọc (Ví dụ: Tác phẩm "Ngôi trường
mọi khi" của Nguyễn Nhật Ánh là một ví
dụ về cách kể theo ngôi thứ hai này: Để đọc
câu chuyện này bạn bắt buộc phải tưởng
tượng. Nếu là con gái, bạn tưởng tượng ít
thôi. Nếu là con trai, bạn phải tưởng tượng
khủng khiếp hơn nhiều)
+ Ngôi thứ ba: Người kể giấu mình, cho
phép xâm nhập vào thế giới nội tâm, suy
nghĩ và hành động của các nhân vật
4. Nhân vật
- Khái niệm
+ “Con người là điều thú vị nhất đối với
con người, và con người cũng chỉ hứng thú
với con người” (Nhà văn hào Đức
W.Goethe)
+ Con người là nội dung quan trọng nhất
của văn học
🡺 Nhân vật là con người cụ thể được khắc
họa trong tác phẩm văn học bằng các biện
pháp nghệ thuật. Nhân vật được nhà văn
nhận thức, tái tạo có thể là thần linh, loài
vật, đồ vật,… nhưng khi ấy, chúng vẫn đại
diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay
khát vọng của con người. Nhân vật là
phương tiện để văn học khám phá và cắt
nghĩa về con người.
- Đặc trưng
+ Nhân vật dưới mọi hình thức đều có tích
cách. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể
hiện những cá nhân xã hội nhất định và
quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách
khác, nhân vật là phương tiện thể hiện các
tính cách, số phận con người và các quan
niệm về chúng.
+ Ý nghĩa nhân vật không chỉ thể hiện ở
tính cách. Vì mỗi tính cách là kết tinh của
một môi trường, cho nên nhân vật còn dẫn
dắt ta vào một thế giới đời sống
- Loại hình nhân vật
+ Nhân vật chính diện – Nhân vật phản
diện
+ Nhân vật chính – Nhân vật phụ - Nhân
vật trung tâm
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Phiếu học tập – Phụ lục 2
Giáo viên giao phiếu học tập – HS II. Thần thoại
vận dụng những tri thức đã đọc về
thần thoại để hoàn thành phiếu
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh hoàn thành phiếu
Thời gian: 10 phút
Chia sẻ: 3 phút
1. Khái niệm
- Thần thoại là một thể loại văn học dân
gian, một thể sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
truyền miệng đầu tiên và không tự giác ra
đời vào giai đoạn xã hội nguyên thủy đã
phát triển từ hoang dã đến văn minh. Đó là
một tập hợp những truyện kể dân gian về
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên chốt những kiến thức cơ
bản về thể loại thần thoại
các vị thần, phản ánh quan niệm về thế giới
tự nhiên và đời sống xã hội thời kì thị tộc,
bộ lạc, biểu hiện nhu cầu nhận thức và
những khát vọng tự nhiên về một cuộc sống
tốt đẹp và có tính nhân bản. Thần thoại là
minh chứng mở đầu khẳng định bản chất
của văn học dân gian vừa là văn học vừa là
văn hóa trong tính nguyên hợp điển hình
(Giáo trình Văn học dân gian, NXB Giáo
dục Việt Nam)
- Thần thoại là truyện kể xa xưa nhất, thể
hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng
chinh phục thế giới tự nhiên của con người
thời nguyên thủy
2. Nguồn gốc và phân loại
- Thần thoại suy nguyên: Kể về nguồn
gốc của vũ trụ và muôn loài
- Thần thoại sáng tạo: Kể về cuộc chinh
phục thiên nhiên và sáng tạo văn hóa
3. Đặc trưng
- Tính nguyên hợp: Vừa là văn học vừa là
văn hóa. Những tác phẩm văn học có trước,
theo đó các yếu tố tín ngưỡng, phong tục,
tập quán và nói chung là lối sống mới từ đó
hình thành. Tư duy suy nguyên thần thoại
với sự tham gia của trí tưởng tượng hoang
đường thời kì đầu tiên đã chắp cánh cho
những giấc mơ thần thoại đời sau trở nên
tràn đầy khát vọng. Hai thế giới thực tại
thiêng liêng bên cạnh thế giới của những
anh hùng thần linh khác.
- Cốt truyện đơn giản: Đơn tuyến, tập
trung vào một nhân vật hoặc một tổ hợp
nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ
thần thoại”)
- Nhân vật trung tâm là các vị thần,
những con người có nguồn gốc thần linh,
siêu nhiên với hình dạng khổng lồ và sức
mạnh phi thường. Chức năng của nhân vật
trong thần thoại là cắt nghĩa, lí giải các hiện
tượng tự nhiên và đời sống xã hội, thể hiện
niềm tin của con người cổ sơ cũng như khát
vọng tinh thần có ý nghĩa lâu dài của nhân
loại
- Nghệ thuật: Không gian vũ trụ, nhiều cõi,
thời gian phiếm chỉ, ước lệ, tư duy hồn
nhiên, tính lãng manh, bay bổng.
3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào các truyện kể đã học hoặc tự chọn một truyện
kể yêu thích để phân tích các yếu tố, đặc trưng của truyện kể được thể hiện trong
truyện.
b. Nội dung thực hiện
HS đọc truyện kể và chia sẻ về các đặc trưng của truyện kể theo tri thức Ngữ văn
với các bạn trong lớp.
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Giáo viên giao nhiệm vụ
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thực hiện đọc và ghi lại
các đặc trưng được thể hiện trong
truyện
GV và HS có thể tham khảo một số
truyện kể sau
- Mây trắng còn bay (Bảo Ninh)
- Truyện về nữ thần Demeter (Thần thoại
Hi Lạp)
(Tham khảo truyện phần phụ lục 4)
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh trình bày phần bài làm
của mình
Bước 4. Kết luận, nhận định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo
4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
a. Mục tiêu hoạt động: Hình dung và phác họa về hình ảnh của các vị thần sáng
tạo thế giới
b. Nội dung thực hiện: HS viết, vẽ hoặc lập sơ đồ tư duy ghi lại những tưởng
tượng của mình về các vị thần sáng tạo ra Trái đất
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
HS sáng tạo theo hiểu biết và trí tưởng
tượng của cá nhân
Giáo viên giao nhiệm vụ
Học sinh thảo luận và thực hiện
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thực hiện vẽ, viết hoặc lập
sơ đồ tư duy
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh trình bày phần bài làm
của mình
Bước 4. Kết luận, nhận định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo
Phụ lục 1. Phiếu học tập tìm hiểu về truyện kể
Phụ lục 2. Phiếu học tập tìm hiểu về thể loại thần thoại
Phụ lục 3. Rubic đánh giá hoạt động nhóm tìm hiểu về truyện kể
TIÊU CHÍ
CẦN CỐ GẮNG
ĐÃ LÀM TỐT
RẤT XUẤT SẮC
(0 – 4 điểm)
(5 – 7 điểm)
0 điểm
(8 – 10 điểm)
1 điểm
2 điểm
Bài làm còn sơ Bài làm tương đối đẩy Bài làm tương đối
sài, trình bày cẩu đủ, chỉn chu
Hình thức
(2 điểm)
thả
Sai lỗi chính tả
đẩy đủ, chỉn chu
Trình bày cẩn thận
Trình bày cẩn thận
Không có lỗi chính tả
Không có lỗi chính
tả
Có sự sáng tạo
1 - 3 điểm
4 – 5 điểm
6 điểm
Chưa trả lơi đúng Trả lời tương đối đầy Trả lời tương đối
câu hỏi trọng tâm
Nội dung
(6 điểm)
đủ các câu hỏi gợi dẫn
Không trả lời đủ Trả lời đúng trọng tâm
hết các câu hỏi
gợi dẫn
Có ít nhất 1 – 2 ý mở
rộng nâng cao
(2 điểm)
Trả lời đúng trọng
tâm
Có nhiều hơn 2 ý
mới dừng lại ở
mở rộng nâng cao
Có sự sáng tạo
nhận diện
nhóm
gợi dẫn
Nội dung sơ sài
mức độ biết và
Hiệu quả
đầy đủ các câu hỏi
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Các thành viên Hoạt động tương đối Hoạt động gắn kết
chưa gắn kết chặt gắn kết, có tranh luận
chẽ
nhưng
vẫn
đi
đến
Có sự đồng thuận và
nhiều ý tưởng khác
Vẫn còn trên 2 thông nhát
thành viên không
tham
động
gia
hoạt
biệt, sáng tạo
Vẫn còn 1 thành viên Toàn bộ thành viên
không tham gia hoạt đều tham gia hoạt
động
động
Điểm
TỔNG
Phụ lục 4.1 Mây trắng còn bay – Bảo Ninh
Máy bay cất cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình
thường dội độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý
nên trả vé, đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.
Máy bay hẫng một cái như hụt bước. Tay vận complet ngồi bên cạnh tôi mặt nhợt
đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế.
Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc càng sâu thẳm.
- Mây ngay ngoài, các bác kìa! - bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu
lên.
Chiếc TU đã lấy được độ cao cần thiết, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt
lưng an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.
- Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được - Bà cụ nói - Y thể cây lá ngoài
vườn.
Tay vận complet nhấc mi mắt lên. Môi y mím chặt, vẻ căng thẳng đổi thành quàu
quạu.
- Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ?
Tay nọ làm thinh.
- Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?
Không được trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong
lòng một chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân
ghế. Khi cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ
ăn. Bà bảo cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng
hồi sớm, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích
để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn này đã được tính gộp trong tiền vé.
- Thảo nào hai lượt tàu bay những triệu bạc - bà cụ nói - Vậy mà lúc biếu già tấm
vé các chú không quân cùng đơn vị với con trai già ngày nọ bảo là tốn có trăm
ngàn. Các chú ấy cho già thì có, chứ còn tính ở quê đừng nói triệu với trăm ngàn,
ngàn với trăm cũng khó.
Bà cụ hạ chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp
thứ gói trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta
mang đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên:
- Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?
- Dạ thưa - Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay - Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa
cụ vì chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng
trời vĩ tuyến 17.
- Lát qua đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.
- Ấy chết, mở thế nào được ạ. Cô gái bật cười.
Ngoài cửa sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ trong chốc lát. Trên
rất cao này, trời vẫn còn mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa
chuyến nào thấy mệt như chuyến này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở miền
trung nên không trung đầy rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và
dưới sàn khe khẽ phát ra những tiếng răng rắc như sắp rạn.
Tay vận complet xoè diêm châm thuốc. Là dân nghiện nhưng lúc này tôi thấy gai
với khói. Lẽ ra y nên xuống phía dưới mà thả khí chứ chẳng nên phớt lờ hàng chữ
“không hút thuốc” sáng nay trước mũi y như vậy, tôi sẽ uể oải thầm nghĩ, đậy tờ
báo lên mặt và nhắm mắt lại. Giấc ngủ thiu thiu chầm chậm trườn tới.
- Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!
Tôi giật bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi
cạnh tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của
nỗi hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi
liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già, cả ô cửa sổ.
- Này, cô kia, cô nhân viên! - Y sang trọng đứng dậy mắng - Tới mà nhìn! Đây là
hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?
- Van bác... - Bà cụ sợ sệt - Bác ơi, van bác... Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng cả
nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất.
Tay nọ gần như bước xéo lên đùi tôi, xấn ra lối đi. Bộ mặt hồng hào bừng bừng
giận dữ và khinh miệt.
Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc
bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm
trong chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để
dựng vào thành cốc.
Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt
một lời, cô lặng nhìn.
Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn
thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái
khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công
trong ảnh còn rất trẻ.
Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh
của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm toả hương thơm ngát. Ngoài
cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng.
Phụ lục 4.2 Truyện kể về nữ thần Detemer – Thần thoại Hi Lạp
Demeter là ai?
Nữ thần Déméter trong thế giới thần thoại Hy Lạp cổ đại tuy không có sức mạnh và
quyền thế lớn lao như Zeus, Héra, Poseidon, Hadès nhưng lại được người xưa hết
sức trọng vọng, sùng kính. Có lẽ sau vị thần Thợ rèn-Héphaïstos thì Déméter là vị
thần không gây cho người trần thế một tai họa nào mà chỉ ban cho họ biết bao
nhiêu phúc lợi. Cũng phải nhắc đến nữ thần Hestia cho khỏi bất công. Nàng cũng
không hề gieo một tai họa nào xuống cho những người trần thế song nàng cũng
không đem lại cho họ những phúc lợi lớn lao. Nàng là vị thần của bếp lửa gia đình.
Demeter đi tìm con gái
Nữ thần Déméter có một người con gái duy nhất tên là Perséphone, người con gái
đẹp nhất trong số các thiếu nữ con cái của các vị thần. Đó là con của Déméter với
Zeus. Chuyện người con gái của Déméter là nàng Perséphone bị thần Hadès bắt cóc
đưa xuống dưới âm phủ làm vợ đã gây nên bao đau khổ cho Déméter và bao rối
loạn cho đời sống các thần trên đỉnh Olympia cũng như người trần thế. May thay
cuối cùng nhờ đấng chí tôn, chí kính, chí công minh Zeus phân xử, cho nên mọi
việc mới trở lại hài hòa, êm thấm. Mặc dù Hades đã cho Perséphone ăn 6 hạt lựu
nhưng cuối cùng Demeter cũng được ở bên cạnh con mình 6 tháng (là 6 tháng mùa
xuân) sau đó Perséphone phải về sống cùng Hades ở dưới địa ngục 6 tháng (6 tháng
mùa đông).
Và sự việc đã diễn ra chỉ trong nháy mắt, bởi vì từ khi được thần Zeus ưng chuẩn,
Hadès ngày đêm theo dõi từng bước đi của Perséphone. Được biết Perséphone cùng
bạn bè đang say sưa vui chơi trong thung lũng đầy hoa thơm cỏ lạ, thần Hadès tức
tốc đến ngay gặp nữ thần Đất - Gaia vĩ đại, xin nữ thần cho mọc lên ở chỗ
Perséphone đang vui chơi một bông hoa cực kỳ đẹp đẽ và thơm ngát. Nữ thần ĐấtGaia làm theo lời thỉnh cầu của Hadès.
Perséphone đang vui chơi bỗng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt từ một cây hoa
nom rất lạ, xưa nay nàng chưa từng trông thấy. Nàng đi đến gần và đưa tay ra vin
cành hoa xuống ngắt. Bỗng nàng thấy người hẫng đi một cái như khi sa chân xuống
một vũng lội. Thần Hadès đã làm cho đất nứt ra ở dưới chân nàng. Và nàng rơi
xuống lòng đất đen trong vòng tay của Hadès. Perséphone chỉ kịp thét lên một tiếng
kinh hoàng. Mặt đất nứt lại khép kín vào, lành lặn như cũ. Thần Hadès bế
Perséphone lên cỗ xe ngựa của mình, cỗ xe có những con ngựa đen bóng nhưng từ
bánh xe cho đến càng xe đều bằng vàng sáng chói hay bằng đồng đỏ rực. Và chỉ
trong nháy mắt cỗ xe đã đưa nàng Perséphone về cung điện của thần Hadès. Thế là
thần Hadès được một người vợ và nữ thần Déméter mất cô con gái yêu dấu, xinh
đẹp.
Tiếng thét kinh hoàng của Perséphone dội vang đến tận trời cao. Ở cung điện
Olympe nữ thần Déméter nghe thấy tiếng thét ấy. Cả núi cao, rừng sâu, biển rộng
nhắc lại tiếng thét ấy như muốn bảo cho Déméter biết chuyện chẳng lành đã xảy ra
với nàng. Nghe tiếng thét của con, Déméter rụng rời cả chân tay. Nàng vội vã rời
ngay cung điện Olympe xuống trần tìm con. Như một con đại bàng, giống chim bay
nhanh nhất trong các loài chim, Déméter từ trời cao lướt xuống, đi tìm con khắp
mặt biển rộng, khắp mặt đất đai, khắp các ngọn núi cao, khắp các cánh rừng sâu.
Nàng gọi con đến khản hơi, mất tiếng: “Per... sé... phone...!” “Per... sé... phone...!”
Nhưng đáp lại tiếng gọi của nàng chỉ là những tiếng “Per... sé... phone...!” vang
vọng, buồn thảm. Déméter đi tìm con suốt chín ngày, chín đêm. Chín ngày không
ăn, chín đêm không ngủ và cũng không tắm gội chải đầu, chải tóc khiến cho thân
hình nàng tiều tụy, hao mòn. Chín ngày không ăn, chín đêm không ngủ, Déméter
cứ đi lang thang hết nơi này đến nơi khác gọi con, kêu gào than khóc vật vã. Nàng
hỏi rừng cây, rừng cây lắc đầu trả lời không biết. Nàng hỏi núi cao, núi cao cũng
ngơ ngác không biết nói gì. Nàng hỏi biển khơi thì biển khơi trả lời nàng bằng
những tiếng thở dài thương cảm. Còn đất đen thì im lặng nhìn nàng, thấm khô
những dòng nước mắt xót xa, đau khổ của nàng đang lã chã tuôn rơi. Cả đến những
tiên nữ Nymphe cùng dạo chơi với Perséphone buổi sáng đẹp trời hôm ấy cũng
không biết gì hơn ngoài việc nghe thấy tiếng thét kinh hoàng của Perséphone.
Chín ngày chín đêm như thế... Déméter với tấm lòng của một người mẹ chẳng quản
ngại vất vả gian lao đã đi tìm đứa con gái yêu dấu, độc nhất của mình. Sang ngày
thứ mười, khi cỗ xe của thần Mặt trời-Hélios đã bỏ lại sau lưng biển khơi không
sinh nở, thì thần Hélios động mối từ tâm bèn gọi Déméter lại và kể cho nàng biết
đầu đuôi câu chuyện vừa qua, bởi vì không có chuyện gì xảy ra ở trên mặt đất này
mà không lọt vào con mắt của vị thần Mặt trời, chẳng ai giấu giếm được điều gì với
vị thần có cỗ xe vàng chói lọi này. (Chính Hélios đã mách cho vị thần Thợ rèn
Chân thọt biết, cô vợ Aphrodite của anh ta hay đi ngang về tắt với thần Arès).
Biết chuyện, nữ thần Déméter vô cùng căm tức thần Zeus. Nàng không trở về thế
giới Olympe để đảm đương công việc của mình nữa. Nàng, từ nay trở đi sẽ sống
mai danh ẩn tích dưới trần, trong thế giới của những người trần đoản mệnh. Nàng
thay hình đổi dạng thành một bà già mặc áo đen và cứ thế đi lang thang hết nơi này
đến nơi khác. Và cho đến một ngày kia nàng đặt chân tới Éleusis.
TIẾT 2. VĂN BẢN ĐỌC
TRUYỆN KỂ VỀ CÁC VỊ THẦN SÁNG TẠO THẾ GIỚI
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ:
+ Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần Trụ
Trời, thần Gió, thần Sét
+ Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
+ Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự nhiên
thông qua hình ảnh các vị thần.
+ Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên
+ Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
2. Về năng lực:
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá được
sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại.
❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
được trách nhiệm với cộng đồng.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV cho HS xem video clip 3 vị thần từng gánh cả bầu trời trên lưng trong
thần thoại (tư liệu đính kèm)
❖ HS theo dõi và nêu cảm nhận
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
HS có thể trả lời theo các ý sau
Giáo viên chiếu video, đặt câu hỏi
- Trình bày câu chuyện về vị thần mà con
Sau khi xem video con ghi nhớ
nhớ nhất
được câu chuyện của vị thần nào? - Lí giải:
Theo con vì sao con người thuở sơ
khai lại hình thành nên những câu
chuyện về những vị thần sáng tạo
vũ trụ?
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh theo dõi và trả lời câu hỏi
+ Do con người chưa có khoa học kĩ thuật,
mọi thứ của thế giới tự nhiên luôn mới mẻ,
lạ lẫm với con người.
+ Tư duy của con người thời khai hoang
lập địa 🡪 Thế giới là một điều kì bí, mọi vật
đều có linh hồn, sức sống.
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên chốt ý và dẫn dắt vào bài
học.
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ:
+ Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần
Trụ Trời, thần Gió, thần Sét
+ Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
+ Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự
nhiên thông qua hình ảnh các vị thần.
+ Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên
+ Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá
được sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại
❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
khác nhau
❖ Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Giáo viên chia lớp thành 6 nhóm
Mỗi nhóm lựa chọn hình thức
trình bày sản phẩm
+ Nhóm họa sĩ: Phác họa hình ảnh
1. Thời gian, không gian, nhân vật và sự
kiện chính của truyện kể
a. Thần Trụ Trời
- Thời gian: Thưở ấy chưa có vũ trụ, chưa
có muôn vật và loài người
các vị thần và các năng lực của các - Không gian: Trời đất là đám hỗn độn, tối
vị thần
tăm và lạnh lẽo
+ Nhóm nhạc sĩ: Sáng tác một bài - Nhân vật: Thần Trụ Trời
hát/bài rap giới thiệu về các vị thần
+ Nhóm tâm linh: Tìm hiểu về tín
ngưỡng thờ cũng và ý nghĩa của
các vị thần trong văn hóa tâm linh
người Việt
+ Nhóm văn học: Tìm hiểu về các
vị thần theo đặc trưng của truyện
kể: thời gian, không gian, cốt
- Sự kiện chính:
+ Thần đầu đội trời lên rồi đào đất, đá đắp
thành cột cao để chống trời
+ Trời cao và khô cứng, thần phá cột, ném
vung đá và đất khắp nơi 🡪 Núi và cao
nguyên
+ Chỗ thần đào lên lấy đất đá thành biển
truyện, nhân vật và người kể. Sau b. Thần Sét
đó rút ra nhận xét
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
- Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
- Không gian: Trên Thiên đình, Dưới hạ
Học sinh thảo luận và hoàn thành giới
phiếu
- Nhân vật: Thần Sét (cũng có khi gọi là
Thời gian: 10 phút – Hoặc các ông Sấm)
nhóm đã chuẩn bị trước bài qua
phần tự học.
Chia sẻ: 3 phút
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
- Sự kiện chính:
+ Giới thiệu thần Sét là người chuyên phản
ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng
+ Một lần thần Sét bị Trời phạt, gà thần của
Ngọc Hoàng được sai xuống mổ thần Sét
nhưng không làm gì được.
+ Về sau, thần Sét cứ nghe tiếng gà là giật
Bước 4. Kết luận, nhận định
mình
Giáo viên chốt những kiến thức cơ + Thần Sét đã từng thua Cường Bạo Đại
bản về nội dung – nghệ thuật các Vương dù sau có chiến thắng cũng khiến
truyện thần thoại.
thiên đình một lần xấu hổ
c. Thần Gió
- Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
- Không gian: Trên Thiên Đình; Dưới hạ
giới
- Nhân vật: Thần Gió
- Sự kiện chính:
+ Giới thiệu về thần Gió
+ Câu chuyện đùa nghịch của con thần Gió
+ Ngọc Hoàng xử tội: Đày con thần Gió
xuống bắt đi chăn trâu, bắt hóa làm cây
ngải để báo tin gió cho thiên hạ, khi trâu bị
cảm gió thì lấy lá cây ngải chữa cho trâu.
2. Đặc điểm và cơ sở hình thành thần
Trụ Trời, thần Sét và thần Gió
a. Thần Trụ Trời
* Hình dạng
- Thâ...
BÀI 1 – SỨC HẤP DẪN CỦA TRUYỆN KỂ
Môn học: Ngữ Văn/Lớp: 10
Thời gian thực hiện: ….. tiết
A. TỔNG QUAN
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức
- Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện,
không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) trong
truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
- Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện,
không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) được thể
hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
- Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định
chủ đề của truyện kể nói chung và thần thoại nói
riêng
- Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông
điệp của văn bản truyện kể nói chung và thần thoại
nói riêng
2.1Về năng lực chung
- Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực
hợp tác, giải quyết vấn đề,….
2.2Về năng lực đặc thù
- Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân
tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
thuật của một tác phẩm truyện.
- Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội
dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
3. Về phẩm chất
Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão,
và thể hiện được trách nhiệm với cộng đồng
NỘI DUNG BÀI HỌC
Đọc
● Tri thức ngữ văn
● Truyện kể về các vị thần sáng tạo thế giới
● Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
● Chữ người tử tù
● Tê – đê (Trích Thần thoại Hi Lạp)
Thực hành Tiếng Việt
● Từ Hán Việt
Viết
● Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá tác
phẩm
Nói và nghe
● Giới thiệu về nội dung và nghệ thuật của một
tác phẩm
Củng cố mở rộng
● Ôn tập kiến thức về truyện kể
● Mở rộng kiến thức về truyện thần thoại.
B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
TIẾT 1. TRI THỨC NGỮ VĂN
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi
kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi kể,
nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
chung và thần thoại nói riêng
❖ Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông điệp của văn bản truyện kể
nói chung và thần thoại nói riêng
2. Về năng lực
❖ Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những
nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm truyện.
❖ Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một
tác phẩm truyện
❖ Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề,
….
3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
được trách nhiệm với cộng đồng
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV chuẩn bị câu hỏi khởi động: Em biết gì về truyện kể?
❖ Học sinh hoàn thành bảng K – W – L để tìm hiểu kiến thức về truyện kể
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Học sinh suy nghĩ và dự trù câu trả
lời
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh hoàn thiện phiếu K – W –
Phần chuẩn bị bài trình chiếu và phiếu của
giáo viên.
K
W
L
Điều con đã
Điều con
Điều con
biết
muốn biết
mong
L
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
muốn biết
thêm
Học sinh chia sẻ kiến thức đã biết
và mong muốn về bài học
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên dẫn dắt vào bài học: Tìm
hiểu truyện kể nói chung và đặc
biệt là thế giới thần thoại.
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian,
ngôi kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi
kể, nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói
riêng
❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
chung và thần thoại nói riêng
b. Nội dung thực hiện:
❖ Học sinh đọc phần “Tri thức ngữ văn” trong SGK và kết hợp đọc tài liệu bổ
trợ giáo viên đưa
❖ Học sinh thảo luận nhóm và thực hiện phiếu học tập để tìm hiểu về truyện kể
và thần thoại
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Phiếu học tập – Phụ lục 1
Giáo viên giao phiếu và chia lớp Phần chia sẻ của Học sinh
thành 4 nhóm theo dạng KHĂN
TRẢI BÀN
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thảo luận và hoàn thành
phiếu
I. Truyện kể
1. Sự kiện biến cố
- Để tìm hiểu về khái niệm SỰ KIỆN
(BIẾN CỐ) điều đầu tiên chúng ta cần phải
hiểu khái niệm về THẾ GIỚI NGHỆ
Thời gian: 10 phút
THUẬT
Chia sẻ: 3 phút
- THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT - là một thế
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
Bước 4. Kết luận, nhận định
giới kép gồm thế giới được miêu tả và thế
giới miêu tả.
+ Thế giới được miêu tả là nhân vật sự
kiện, cảnh vật,….
+ Thế giới miêu tả là thế giới của người kể
chuyện, người trữ tình
Giáo viên chốt những kiến thức cơ Hai thế giới này luôn gắn liên chặt chẽ với
bản về truyện kể
nhau, có thể hiểu khái niệm thế giới nghệ
thuật chính là gồm hai yếu tố: Thế giới, nội
dung trong câu chuyện và Thế giới mà
người kể chuyện đang tồn tại, sinh sống
Thế giới nghệ thuật gồm có yếu tố: không
gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
- THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT văn học là
một thế giới hình tượng vận động và mang
ý nghĩa. Hình tượng mang ý nghĩa ấy xuất
hiện và lớn dần qua các SỰ KIỆN và LỜI
TRẦN THUẬT
- Nội dung biểu hiện chủ yếu của văn bản
văn học là NHÂN VẬT và SỰ KIỆN
(BIẾN CỐ). Mỗi hành động có cả một
chuỗi các chi tiết
- Tuy nhiên, cần lưu ý khái niệm sự kiện,
không phải hành động nào cũng được coi là
sự kiện, sự kiện phải là hành vi (việc làm
của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với
nhân vật dẫn đến hậu quả, làm biến đổi hay
bộc lộ ý nghĩa nào đó)
Ví dụ: Sự kiện Cám và Tấm đi bắt tép bao
gồm một chuỗi các chi tiết: Cám lừa Tấm
đi gội đầu, Cám trút giỏ tép của Tấm sang
giỏ của mình, Cám được cái yếm đỏ,…Sự
kiện này mang đến ý nghĩa: Không phải vì
Cám ham mê chiếc yếm đỏ (bởi Cám đâu
có thiếu thốn gì?) mà chính sự kiện này đã
nhấn mạnh sự đối nghịch giữa Tấm và Cám
giữa hai phe thiện và ác mà mục đích của
tác giả dân gian trong truyện Cổ tích là phải
làm sao để nổi bật sự đối nghịch giữa hai
phe.
2. Cốt truyện
- Khái niệm: Cốt truyện trong tác phẩm tự
sự (thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn,
tiểu thuyết,…) và kịch được tạo nên bởi
chuỗi sự kiện, nằm dưới lớp vỏ trần thuật,
làm nên cái sườn của tác phẩm.
- Tính chất cốt truyện: Cốt truyện có hai
tính chất cơ bản
+ Các sự kiện trong chuỗi có mỗi quan hệ
nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa, có
mở đầu và có kết thúc
+ Cốt truyện có tính liên tục về thơi gian.
Giữa các sự kiện nhân quả nói trên có
những khoảng cách thời gian. Các khoảng
cách thời gian ấy tạo thành “không gian”
quan trọng để tác giả miêu tả, phân tích,
bình luận
- Chức năng cốt truyện: Thực hiện chức
năng rất quan trọng trong truyện kể
+ Gắn kết các sự kiện thành một chuỗi, tạo
thành lịch sử của một nhân vật, thực hiện
việc khắc họa nhân vật
+ Bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con
người (xã hội, tâm lí, đạo đức…), tái hiện
bức tranh đời sống
+ Tạo ra ý nghĩa nhân sinh có giá trị nhận
thức
+ Gây hấp dẫn cho người đọc (người đọc
luôn quan tâm đến số phận nhân vật)
3. Người kể chuyện
NGƯỜI KỂ CHUYỆN (người trần thuật)
là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là vai
do nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện
hành vi trần thuật. Người kể chuyện có thể
được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ hai
hoặc ngôi thứ nhất
+ Ngôi thứ nhất: Người kể xưng “tôi”, nội
dung kể không xâm phạm ra ngoài phạm vi
hiểu biết, cảm nhận của người kể
+ Ngôi thứ hai: Hiếm gặp, thường mượn
vai bạn đọc (Ví dụ: Tác phẩm "Ngôi trường
mọi khi" của Nguyễn Nhật Ánh là một ví
dụ về cách kể theo ngôi thứ hai này: Để đọc
câu chuyện này bạn bắt buộc phải tưởng
tượng. Nếu là con gái, bạn tưởng tượng ít
thôi. Nếu là con trai, bạn phải tưởng tượng
khủng khiếp hơn nhiều)
+ Ngôi thứ ba: Người kể giấu mình, cho
phép xâm nhập vào thế giới nội tâm, suy
nghĩ và hành động của các nhân vật
4. Nhân vật
- Khái niệm
+ “Con người là điều thú vị nhất đối với
con người, và con người cũng chỉ hứng thú
với con người” (Nhà văn hào Đức
W.Goethe)
+ Con người là nội dung quan trọng nhất
của văn học
🡺 Nhân vật là con người cụ thể được khắc
họa trong tác phẩm văn học bằng các biện
pháp nghệ thuật. Nhân vật được nhà văn
nhận thức, tái tạo có thể là thần linh, loài
vật, đồ vật,… nhưng khi ấy, chúng vẫn đại
diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay
khát vọng của con người. Nhân vật là
phương tiện để văn học khám phá và cắt
nghĩa về con người.
- Đặc trưng
+ Nhân vật dưới mọi hình thức đều có tích
cách. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể
hiện những cá nhân xã hội nhất định và
quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách
khác, nhân vật là phương tiện thể hiện các
tính cách, số phận con người và các quan
niệm về chúng.
+ Ý nghĩa nhân vật không chỉ thể hiện ở
tính cách. Vì mỗi tính cách là kết tinh của
một môi trường, cho nên nhân vật còn dẫn
dắt ta vào một thế giới đời sống
- Loại hình nhân vật
+ Nhân vật chính diện – Nhân vật phản
diện
+ Nhân vật chính – Nhân vật phụ - Nhân
vật trung tâm
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Phiếu học tập – Phụ lục 2
Giáo viên giao phiếu học tập – HS II. Thần thoại
vận dụng những tri thức đã đọc về
thần thoại để hoàn thành phiếu
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh hoàn thành phiếu
Thời gian: 10 phút
Chia sẻ: 3 phút
1. Khái niệm
- Thần thoại là một thể loại văn học dân
gian, một thể sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
truyền miệng đầu tiên và không tự giác ra
đời vào giai đoạn xã hội nguyên thủy đã
phát triển từ hoang dã đến văn minh. Đó là
một tập hợp những truyện kể dân gian về
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên chốt những kiến thức cơ
bản về thể loại thần thoại
các vị thần, phản ánh quan niệm về thế giới
tự nhiên và đời sống xã hội thời kì thị tộc,
bộ lạc, biểu hiện nhu cầu nhận thức và
những khát vọng tự nhiên về một cuộc sống
tốt đẹp và có tính nhân bản. Thần thoại là
minh chứng mở đầu khẳng định bản chất
của văn học dân gian vừa là văn học vừa là
văn hóa trong tính nguyên hợp điển hình
(Giáo trình Văn học dân gian, NXB Giáo
dục Việt Nam)
- Thần thoại là truyện kể xa xưa nhất, thể
hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng
chinh phục thế giới tự nhiên của con người
thời nguyên thủy
2. Nguồn gốc và phân loại
- Thần thoại suy nguyên: Kể về nguồn
gốc của vũ trụ và muôn loài
- Thần thoại sáng tạo: Kể về cuộc chinh
phục thiên nhiên và sáng tạo văn hóa
3. Đặc trưng
- Tính nguyên hợp: Vừa là văn học vừa là
văn hóa. Những tác phẩm văn học có trước,
theo đó các yếu tố tín ngưỡng, phong tục,
tập quán và nói chung là lối sống mới từ đó
hình thành. Tư duy suy nguyên thần thoại
với sự tham gia của trí tưởng tượng hoang
đường thời kì đầu tiên đã chắp cánh cho
những giấc mơ thần thoại đời sau trở nên
tràn đầy khát vọng. Hai thế giới thực tại
thiêng liêng bên cạnh thế giới của những
anh hùng thần linh khác.
- Cốt truyện đơn giản: Đơn tuyến, tập
trung vào một nhân vật hoặc một tổ hợp
nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ
thần thoại”)
- Nhân vật trung tâm là các vị thần,
những con người có nguồn gốc thần linh,
siêu nhiên với hình dạng khổng lồ và sức
mạnh phi thường. Chức năng của nhân vật
trong thần thoại là cắt nghĩa, lí giải các hiện
tượng tự nhiên và đời sống xã hội, thể hiện
niềm tin của con người cổ sơ cũng như khát
vọng tinh thần có ý nghĩa lâu dài của nhân
loại
- Nghệ thuật: Không gian vũ trụ, nhiều cõi,
thời gian phiếm chỉ, ước lệ, tư duy hồn
nhiên, tính lãng manh, bay bổng.
3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào các truyện kể đã học hoặc tự chọn một truyện
kể yêu thích để phân tích các yếu tố, đặc trưng của truyện kể được thể hiện trong
truyện.
b. Nội dung thực hiện
HS đọc truyện kể và chia sẻ về các đặc trưng của truyện kể theo tri thức Ngữ văn
với các bạn trong lớp.
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Giáo viên giao nhiệm vụ
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thực hiện đọc và ghi lại
các đặc trưng được thể hiện trong
truyện
GV và HS có thể tham khảo một số
truyện kể sau
- Mây trắng còn bay (Bảo Ninh)
- Truyện về nữ thần Demeter (Thần thoại
Hi Lạp)
(Tham khảo truyện phần phụ lục 4)
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh trình bày phần bài làm
của mình
Bước 4. Kết luận, nhận định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo
4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
a. Mục tiêu hoạt động: Hình dung và phác họa về hình ảnh của các vị thần sáng
tạo thế giới
b. Nội dung thực hiện: HS viết, vẽ hoặc lập sơ đồ tư duy ghi lại những tưởng
tượng của mình về các vị thần sáng tạo ra Trái đất
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
HS sáng tạo theo hiểu biết và trí tưởng
tượng của cá nhân
Giáo viên giao nhiệm vụ
Học sinh thảo luận và thực hiện
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh thực hiện vẽ, viết hoặc lập
sơ đồ tư duy
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh trình bày phần bài làm
của mình
Bước 4. Kết luận, nhận định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo
Phụ lục 1. Phiếu học tập tìm hiểu về truyện kể
Phụ lục 2. Phiếu học tập tìm hiểu về thể loại thần thoại
Phụ lục 3. Rubic đánh giá hoạt động nhóm tìm hiểu về truyện kể
TIÊU CHÍ
CẦN CỐ GẮNG
ĐÃ LÀM TỐT
RẤT XUẤT SẮC
(0 – 4 điểm)
(5 – 7 điểm)
0 điểm
(8 – 10 điểm)
1 điểm
2 điểm
Bài làm còn sơ Bài làm tương đối đẩy Bài làm tương đối
sài, trình bày cẩu đủ, chỉn chu
Hình thức
(2 điểm)
thả
Sai lỗi chính tả
đẩy đủ, chỉn chu
Trình bày cẩn thận
Trình bày cẩn thận
Không có lỗi chính tả
Không có lỗi chính
tả
Có sự sáng tạo
1 - 3 điểm
4 – 5 điểm
6 điểm
Chưa trả lơi đúng Trả lời tương đối đầy Trả lời tương đối
câu hỏi trọng tâm
Nội dung
(6 điểm)
đủ các câu hỏi gợi dẫn
Không trả lời đủ Trả lời đúng trọng tâm
hết các câu hỏi
gợi dẫn
Có ít nhất 1 – 2 ý mở
rộng nâng cao
(2 điểm)
Trả lời đúng trọng
tâm
Có nhiều hơn 2 ý
mới dừng lại ở
mở rộng nâng cao
Có sự sáng tạo
nhận diện
nhóm
gợi dẫn
Nội dung sơ sài
mức độ biết và
Hiệu quả
đầy đủ các câu hỏi
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Các thành viên Hoạt động tương đối Hoạt động gắn kết
chưa gắn kết chặt gắn kết, có tranh luận
chẽ
nhưng
vẫn
đi
đến
Có sự đồng thuận và
nhiều ý tưởng khác
Vẫn còn trên 2 thông nhát
thành viên không
tham
động
gia
hoạt
biệt, sáng tạo
Vẫn còn 1 thành viên Toàn bộ thành viên
không tham gia hoạt đều tham gia hoạt
động
động
Điểm
TỔNG
Phụ lục 4.1 Mây trắng còn bay – Bảo Ninh
Máy bay cất cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình
thường dội độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý
nên trả vé, đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.
Máy bay hẫng một cái như hụt bước. Tay vận complet ngồi bên cạnh tôi mặt nhợt
đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế.
Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc càng sâu thẳm.
- Mây ngay ngoài, các bác kìa! - bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu
lên.
Chiếc TU đã lấy được độ cao cần thiết, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt
lưng an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.
- Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được - Bà cụ nói - Y thể cây lá ngoài
vườn.
Tay vận complet nhấc mi mắt lên. Môi y mím chặt, vẻ căng thẳng đổi thành quàu
quạu.
- Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ?
Tay nọ làm thinh.
- Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?
Không được trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong
lòng một chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân
ghế. Khi cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ
ăn. Bà bảo cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng
hồi sớm, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích
để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn này đã được tính gộp trong tiền vé.
- Thảo nào hai lượt tàu bay những triệu bạc - bà cụ nói - Vậy mà lúc biếu già tấm
vé các chú không quân cùng đơn vị với con trai già ngày nọ bảo là tốn có trăm
ngàn. Các chú ấy cho già thì có, chứ còn tính ở quê đừng nói triệu với trăm ngàn,
ngàn với trăm cũng khó.
Bà cụ hạ chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp
thứ gói trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta
mang đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên:
- Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?
- Dạ thưa - Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay - Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa
cụ vì chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng
trời vĩ tuyến 17.
- Lát qua đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.
- Ấy chết, mở thế nào được ạ. Cô gái bật cười.
Ngoài cửa sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ trong chốc lát. Trên
rất cao này, trời vẫn còn mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa
chuyến nào thấy mệt như chuyến này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở miền
trung nên không trung đầy rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và
dưới sàn khe khẽ phát ra những tiếng răng rắc như sắp rạn.
Tay vận complet xoè diêm châm thuốc. Là dân nghiện nhưng lúc này tôi thấy gai
với khói. Lẽ ra y nên xuống phía dưới mà thả khí chứ chẳng nên phớt lờ hàng chữ
“không hút thuốc” sáng nay trước mũi y như vậy, tôi sẽ uể oải thầm nghĩ, đậy tờ
báo lên mặt và nhắm mắt lại. Giấc ngủ thiu thiu chầm chậm trườn tới.
- Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!
Tôi giật bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi
cạnh tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của
nỗi hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi
liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già, cả ô cửa sổ.
- Này, cô kia, cô nhân viên! - Y sang trọng đứng dậy mắng - Tới mà nhìn! Đây là
hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?
- Van bác... - Bà cụ sợ sệt - Bác ơi, van bác... Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng cả
nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất.
Tay nọ gần như bước xéo lên đùi tôi, xấn ra lối đi. Bộ mặt hồng hào bừng bừng
giận dữ và khinh miệt.
Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc
bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm
trong chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để
dựng vào thành cốc.
Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt
một lời, cô lặng nhìn.
Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn
thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái
khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công
trong ảnh còn rất trẻ.
Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh
của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm toả hương thơm ngát. Ngoài
cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng.
Phụ lục 4.2 Truyện kể về nữ thần Detemer – Thần thoại Hi Lạp
Demeter là ai?
Nữ thần Déméter trong thế giới thần thoại Hy Lạp cổ đại tuy không có sức mạnh và
quyền thế lớn lao như Zeus, Héra, Poseidon, Hadès nhưng lại được người xưa hết
sức trọng vọng, sùng kính. Có lẽ sau vị thần Thợ rèn-Héphaïstos thì Déméter là vị
thần không gây cho người trần thế một tai họa nào mà chỉ ban cho họ biết bao
nhiêu phúc lợi. Cũng phải nhắc đến nữ thần Hestia cho khỏi bất công. Nàng cũng
không hề gieo một tai họa nào xuống cho những người trần thế song nàng cũng
không đem lại cho họ những phúc lợi lớn lao. Nàng là vị thần của bếp lửa gia đình.
Demeter đi tìm con gái
Nữ thần Déméter có một người con gái duy nhất tên là Perséphone, người con gái
đẹp nhất trong số các thiếu nữ con cái của các vị thần. Đó là con của Déméter với
Zeus. Chuyện người con gái của Déméter là nàng Perséphone bị thần Hadès bắt cóc
đưa xuống dưới âm phủ làm vợ đã gây nên bao đau khổ cho Déméter và bao rối
loạn cho đời sống các thần trên đỉnh Olympia cũng như người trần thế. May thay
cuối cùng nhờ đấng chí tôn, chí kính, chí công minh Zeus phân xử, cho nên mọi
việc mới trở lại hài hòa, êm thấm. Mặc dù Hades đã cho Perséphone ăn 6 hạt lựu
nhưng cuối cùng Demeter cũng được ở bên cạnh con mình 6 tháng (là 6 tháng mùa
xuân) sau đó Perséphone phải về sống cùng Hades ở dưới địa ngục 6 tháng (6 tháng
mùa đông).
Và sự việc đã diễn ra chỉ trong nháy mắt, bởi vì từ khi được thần Zeus ưng chuẩn,
Hadès ngày đêm theo dõi từng bước đi của Perséphone. Được biết Perséphone cùng
bạn bè đang say sưa vui chơi trong thung lũng đầy hoa thơm cỏ lạ, thần Hadès tức
tốc đến ngay gặp nữ thần Đất - Gaia vĩ đại, xin nữ thần cho mọc lên ở chỗ
Perséphone đang vui chơi một bông hoa cực kỳ đẹp đẽ và thơm ngát. Nữ thần ĐấtGaia làm theo lời thỉnh cầu của Hadès.
Perséphone đang vui chơi bỗng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt từ một cây hoa
nom rất lạ, xưa nay nàng chưa từng trông thấy. Nàng đi đến gần và đưa tay ra vin
cành hoa xuống ngắt. Bỗng nàng thấy người hẫng đi một cái như khi sa chân xuống
một vũng lội. Thần Hadès đã làm cho đất nứt ra ở dưới chân nàng. Và nàng rơi
xuống lòng đất đen trong vòng tay của Hadès. Perséphone chỉ kịp thét lên một tiếng
kinh hoàng. Mặt đất nứt lại khép kín vào, lành lặn như cũ. Thần Hadès bế
Perséphone lên cỗ xe ngựa của mình, cỗ xe có những con ngựa đen bóng nhưng từ
bánh xe cho đến càng xe đều bằng vàng sáng chói hay bằng đồng đỏ rực. Và chỉ
trong nháy mắt cỗ xe đã đưa nàng Perséphone về cung điện của thần Hadès. Thế là
thần Hadès được một người vợ và nữ thần Déméter mất cô con gái yêu dấu, xinh
đẹp.
Tiếng thét kinh hoàng của Perséphone dội vang đến tận trời cao. Ở cung điện
Olympe nữ thần Déméter nghe thấy tiếng thét ấy. Cả núi cao, rừng sâu, biển rộng
nhắc lại tiếng thét ấy như muốn bảo cho Déméter biết chuyện chẳng lành đã xảy ra
với nàng. Nghe tiếng thét của con, Déméter rụng rời cả chân tay. Nàng vội vã rời
ngay cung điện Olympe xuống trần tìm con. Như một con đại bàng, giống chim bay
nhanh nhất trong các loài chim, Déméter từ trời cao lướt xuống, đi tìm con khắp
mặt biển rộng, khắp mặt đất đai, khắp các ngọn núi cao, khắp các cánh rừng sâu.
Nàng gọi con đến khản hơi, mất tiếng: “Per... sé... phone...!” “Per... sé... phone...!”
Nhưng đáp lại tiếng gọi của nàng chỉ là những tiếng “Per... sé... phone...!” vang
vọng, buồn thảm. Déméter đi tìm con suốt chín ngày, chín đêm. Chín ngày không
ăn, chín đêm không ngủ và cũng không tắm gội chải đầu, chải tóc khiến cho thân
hình nàng tiều tụy, hao mòn. Chín ngày không ăn, chín đêm không ngủ, Déméter
cứ đi lang thang hết nơi này đến nơi khác gọi con, kêu gào than khóc vật vã. Nàng
hỏi rừng cây, rừng cây lắc đầu trả lời không biết. Nàng hỏi núi cao, núi cao cũng
ngơ ngác không biết nói gì. Nàng hỏi biển khơi thì biển khơi trả lời nàng bằng
những tiếng thở dài thương cảm. Còn đất đen thì im lặng nhìn nàng, thấm khô
những dòng nước mắt xót xa, đau khổ của nàng đang lã chã tuôn rơi. Cả đến những
tiên nữ Nymphe cùng dạo chơi với Perséphone buổi sáng đẹp trời hôm ấy cũng
không biết gì hơn ngoài việc nghe thấy tiếng thét kinh hoàng của Perséphone.
Chín ngày chín đêm như thế... Déméter với tấm lòng của một người mẹ chẳng quản
ngại vất vả gian lao đã đi tìm đứa con gái yêu dấu, độc nhất của mình. Sang ngày
thứ mười, khi cỗ xe của thần Mặt trời-Hélios đã bỏ lại sau lưng biển khơi không
sinh nở, thì thần Hélios động mối từ tâm bèn gọi Déméter lại và kể cho nàng biết
đầu đuôi câu chuyện vừa qua, bởi vì không có chuyện gì xảy ra ở trên mặt đất này
mà không lọt vào con mắt của vị thần Mặt trời, chẳng ai giấu giếm được điều gì với
vị thần có cỗ xe vàng chói lọi này. (Chính Hélios đã mách cho vị thần Thợ rèn
Chân thọt biết, cô vợ Aphrodite của anh ta hay đi ngang về tắt với thần Arès).
Biết chuyện, nữ thần Déméter vô cùng căm tức thần Zeus. Nàng không trở về thế
giới Olympe để đảm đương công việc của mình nữa. Nàng, từ nay trở đi sẽ sống
mai danh ẩn tích dưới trần, trong thế giới của những người trần đoản mệnh. Nàng
thay hình đổi dạng thành một bà già mặc áo đen và cứ thế đi lang thang hết nơi này
đến nơi khác. Và cho đến một ngày kia nàng đặt chân tới Éleusis.
TIẾT 2. VĂN BẢN ĐỌC
TRUYỆN KỂ VỀ CÁC VỊ THẦN SÁNG TẠO THẾ GIỚI
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ:
+ Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần Trụ
Trời, thần Gió, thần Sét
+ Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
+ Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự nhiên
thông qua hình ảnh các vị thần.
+ Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên
+ Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
2. Về năng lực:
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá được
sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại.
❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
được trách nhiệm với cộng đồng.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV cho HS xem video clip 3 vị thần từng gánh cả bầu trời trên lưng trong
thần thoại (tư liệu đính kèm)
❖ HS theo dõi và nêu cảm nhận
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
HS có thể trả lời theo các ý sau
Giáo viên chiếu video, đặt câu hỏi
- Trình bày câu chuyện về vị thần mà con
Sau khi xem video con ghi nhớ
nhớ nhất
được câu chuyện của vị thần nào? - Lí giải:
Theo con vì sao con người thuở sơ
khai lại hình thành nên những câu
chuyện về những vị thần sáng tạo
vũ trụ?
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Học sinh theo dõi và trả lời câu hỏi
+ Do con người chưa có khoa học kĩ thuật,
mọi thứ của thế giới tự nhiên luôn mới mẻ,
lạ lẫm với con người.
+ Tư duy của con người thời khai hoang
lập địa 🡪 Thế giới là một điều kì bí, mọi vật
đều có linh hồn, sức sống.
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ
Bước 4. Kết luận, nhận định
Giáo viên chốt ý và dẫn dắt vào bài
học.
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ:
+ Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần
Trụ Trời, thần Gió, thần Sét
+ Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
+ Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự
nhiên thông qua hình ảnh các vị thần.
+ Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên
+ Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá
được sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại
❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
khác nhau
❖ Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm
Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
Giáo viên chia lớp thành 6 nhóm
Mỗi nhóm lựa chọn hình thức
trình bày sản phẩm
+ Nhóm họa sĩ: Phác họa hình ảnh
1. Thời gian, không gian, nhân vật và sự
kiện chính của truyện kể
a. Thần Trụ Trời
- Thời gian: Thưở ấy chưa có vũ trụ, chưa
có muôn vật và loài người
các vị thần và các năng lực của các - Không gian: Trời đất là đám hỗn độn, tối
vị thần
tăm và lạnh lẽo
+ Nhóm nhạc sĩ: Sáng tác một bài - Nhân vật: Thần Trụ Trời
hát/bài rap giới thiệu về các vị thần
+ Nhóm tâm linh: Tìm hiểu về tín
ngưỡng thờ cũng và ý nghĩa của
các vị thần trong văn hóa tâm linh
người Việt
+ Nhóm văn học: Tìm hiểu về các
vị thần theo đặc trưng của truyện
kể: thời gian, không gian, cốt
- Sự kiện chính:
+ Thần đầu đội trời lên rồi đào đất, đá đắp
thành cột cao để chống trời
+ Trời cao và khô cứng, thần phá cột, ném
vung đá và đất khắp nơi 🡪 Núi và cao
nguyên
+ Chỗ thần đào lên lấy đất đá thành biển
truyện, nhân vật và người kể. Sau b. Thần Sét
đó rút ra nhận xét
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
- Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
- Không gian: Trên Thiên đình, Dưới hạ
Học sinh thảo luận và hoàn thành giới
phiếu
- Nhân vật: Thần Sét (cũng có khi gọi là
Thời gian: 10 phút – Hoặc các ông Sấm)
nhóm đã chuẩn bị trước bài qua
phần tự học.
Chia sẻ: 3 phút
Phản biện và trao đổi: 2 phút
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
phần tìm hiểu
- Sự kiện chính:
+ Giới thiệu thần Sét là người chuyên phản
ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng
+ Một lần thần Sét bị Trời phạt, gà thần của
Ngọc Hoàng được sai xuống mổ thần Sét
nhưng không làm gì được.
+ Về sau, thần Sét cứ nghe tiếng gà là giật
Bước 4. Kết luận, nhận định
mình
Giáo viên chốt những kiến thức cơ + Thần Sét đã từng thua Cường Bạo Đại
bản về nội dung – nghệ thuật các Vương dù sau có chiến thắng cũng khiến
truyện thần thoại.
thiên đình một lần xấu hổ
c. Thần Gió
- Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
- Không gian: Trên Thiên Đình; Dưới hạ
giới
- Nhân vật: Thần Gió
- Sự kiện chính:
+ Giới thiệu về thần Gió
+ Câu chuyện đùa nghịch của con thần Gió
+ Ngọc Hoàng xử tội: Đày con thần Gió
xuống bắt đi chăn trâu, bắt hóa làm cây
ngải để báo tin gió cho thiên hạ, khi trâu bị
cảm gió thì lấy lá cây ngải chữa cho trâu.
2. Đặc điểm và cơ sở hình thành thần
Trụ Trời, thần Sét và thần Gió
a. Thần Trụ Trời
* Hình dạng
- Thâ...
 






Các ý kiến mới nhất