Ảnh ngẫu nhiên

2aOboQmCHU7g7N9g9sHzVSM9J95HOwTGFjYc9cBc.jpg 2aOboQmCHUaawv747uSmds6lZcswJ2cWM9Ju3Uoa.jpg 2aOboQmCHXvU5Q9zHpK6pCiW4TJvuMLJYhzPvLiS.jpg 2aOboQmCHYbtjc1mPIAcLZNBNTv9jJkyy3Ws9fV2.jpg 2aOboQmCILN2Xh6kxcW1ecC5et9HyWXypQbjQ9hI.jpg 2aOboQmCILk4TzpHQVaAATITSFwxqY68K5s8PlT6.jpg 2aOboQmCJ0dJp08Jpl83W8aED3eN5tKUwmoUjTge.jpg 2aOboQmCPl4zjVCmN4lUbfE0He6ClD5Kt5l0FLPs.jpg 2aOboQmCQ6G8E6c2SZR2UURV7ay0zPZQ6wa4whSS.jpg 2aOboQmCQ7asawRX1UnvnM8iUp2ZVX3GIVHexLpA.jpg 2aOboQmCQM6EoXkwn9kpJW1rDrs3unZ5k5CHxkcS_1.jpg 2aOboQmCSf0IqWd4a8rgs5RFI48wf3zKTZ6gmFwO.jpg 2aOboQmCSgLFNTASf6bXOdWkeQX99C1AJqh6gO1o.jpg 2aOboQmA6Y0Cw8e6GeqgM6nOEsa0c4yoTEXYjKs4_1.jpg 2aOboQmDXviJg2ecAKe75dZao3oSCReyYoR560eG_1.jpg 2aOboQlwhRg4dYNYhzew7xeO5JEeDTcwK9RMH4LY.jpg 2aOboQlwhmZwmdU1K7kQaToYJkfJDs4RGLpcOdSS.jpg 2aOboQlwhvihnCrvCZNvHMM1i8bsygmnjD8r2CO0.jpg 2aOboQlwhaBiKwzVkPryCmkoH1i1RCPU39phToP2.jpg 2aOboQlwhW20yQZfkb7FqxYjoEEWuujf9tUfyS9o.jpg

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Admin [0651.3500858])

Điều tra ý kiến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Ngữ văn 10 KNTT

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Minh Thanh
    Ngày gửi: 11h:19' 31-07-2024
    Dung lượng: 1'016.0 KB
    Số lượt tải: 167
    Số lượt thích: 0 người
    Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
    BÀI 1 – SỨC HẤP DẪN CỦA TRUYỆN KỂ
    Môn học: Ngữ Văn/Lớp: 10
    Thời gian thực hiện: ….. tiết
    A. TỔNG QUAN
    MỤC TIÊU BÀI HỌC
    1. Về kiến thức

    - Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện,
    không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) trong
    truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
    - Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện,
    không gian, thời gian, ngôi kể, nhân vật,…) được thể
    hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
    - Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định
    chủ đề của truyện kể nói chung và thần thoại nói
    riêng
    - Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông
    điệp của văn bản truyện kể nói chung và thần thoại
    nói riêng

    2.1Về năng lực chung

    - Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực
    hợp tác, giải quyết vấn đề,….

    2.2Về năng lực đặc thù

    - Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân
    tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ
    thuật của một tác phẩm truyện.

    - Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội
    dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện
    3. Về phẩm chất

    Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão,
    và thể hiện được trách nhiệm với cộng đồng

    NỘI DUNG BÀI HỌC
    Đọc

    ● Tri thức ngữ văn
    ● Truyện kể về các vị thần sáng tạo thế giới
    ● Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
    ● Chữ người tử tù
    ● Tê – đê (Trích Thần thoại Hi Lạp)

    Thực hành Tiếng Việt

    ● Từ Hán Việt

    Viết

    ● Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá tác
    phẩm

    Nói và nghe

    ● Giới thiệu về nội dung và nghệ thuật của một
    tác phẩm

    Củng cố mở rộng

    ● Ôn tập kiến thức về truyện kể
    ● Mở rộng kiến thức về truyện thần thoại.

    B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
    TIẾT 1. TRI THỨC NGỮ VĂN
    I. MỤC TIÊU
    1. Về kiến thức

    ❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi
    kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
    ❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi kể,
    nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng
    ❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
    chung và thần thoại nói riêng
    ❖ Học sinh đánh giá được chủ đề, tư tưởng và thông điệp của văn bản truyện kể
    nói chung và thần thoại nói riêng
    2. Về năng lực
    ❖ Học sinh viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những
    nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm truyện.
    ❖ Học sinh thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một
    tác phẩm truyện
    ❖ Học sinh phát triển: Tư duy phản biện, năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề,
    ….
    3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
    được trách nhiệm với cộng đồng
    II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
    1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
    2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
    III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    SẢN PHẨM

    1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ

    a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
    dung bài học
    b. Nội dung thực hiện:
    ❖ GV chuẩn bị câu hỏi khởi động: Em biết gì về truyện kể?
    ❖ Học sinh hoàn thành bảng K – W – L để tìm hiểu kiến thức về truyện kể
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
    Học sinh suy nghĩ và dự trù câu trả
    lời
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh hoàn thiện phiếu K – W –

    Phần chuẩn bị bài trình chiếu và phiếu của
    giáo viên.
    K

    W

    L

    Điều con đã

    Điều con

    Điều con

    biết

    muốn biết

    mong

    L
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận

    muốn biết
    thêm

    Học sinh chia sẻ kiến thức đã biết
    và mong muốn về bài học
    Bước 4. Kết luận, nhận định
    Giáo viên dẫn dắt vào bài học: Tìm
    hiểu truyện kể nói chung và đặc
    biệt là thế giới thần thoại.
    2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
    a. Mục tiêu hoạt động:
    ❖ Học sinh nhận biết được một số yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian,
    ngôi kể, nhân vật,…) trong truyện kể nói chung và thần thoại nói riêng.
    ❖ Học sinh phân tích được các yếu tố (cốt truyện, không gian, thời gian, ngôi

    kể, nhân vật,…) được thể hiện trong truyện kể nói chung và thần thoại nói
    riêng
    ❖ Học sinh phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề của truyện kể nói
    chung và thần thoại nói riêng
    b. Nội dung thực hiện:
    ❖ Học sinh đọc phần “Tri thức ngữ văn” trong SGK và kết hợp đọc tài liệu bổ
    trợ giáo viên đưa
    ❖ Học sinh thảo luận nhóm và thực hiện phiếu học tập để tìm hiểu về truyện kể
    và thần thoại
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập

    Phiếu học tập – Phụ lục 1

    Giáo viên giao phiếu và chia lớp Phần chia sẻ của Học sinh
    thành 4 nhóm theo dạng KHĂN
    TRẢI BÀN
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh thảo luận và hoàn thành
    phiếu

    I. Truyện kể
    1. Sự kiện biến cố
    - Để tìm hiểu về khái niệm SỰ KIỆN
    (BIẾN CỐ) điều đầu tiên chúng ta cần phải
    hiểu khái niệm về THẾ GIỚI NGHỆ

    Thời gian: 10 phút

    THUẬT

    Chia sẻ: 3 phút

    - THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT - là một thế

    Phản biện và trao đổi: 2 phút
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
    phần tìm hiểu
    Bước 4. Kết luận, nhận định

    giới kép gồm thế giới được miêu tả và thế
    giới miêu tả.
    + Thế giới được miêu tả là nhân vật sự
    kiện, cảnh vật,….
    + Thế giới miêu tả là thế giới của người kể
    chuyện, người trữ tình

    Giáo viên chốt những kiến thức cơ Hai thế giới này luôn gắn liên chặt chẽ với
    bản về truyện kể

    nhau, có thể hiểu khái niệm thế giới nghệ
    thuật chính là gồm hai yếu tố: Thế giới, nội
    dung trong câu chuyện và Thế giới mà
    người kể chuyện đang tồn tại, sinh sống
    Thế giới nghệ thuật gồm có yếu tố: không
    gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
    - THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT văn học là
    một thế giới hình tượng vận động và mang
    ý nghĩa. Hình tượng mang ý nghĩa ấy xuất
    hiện và lớn dần qua các SỰ KIỆN và LỜI
    TRẦN THUẬT
    - Nội dung biểu hiện chủ yếu của văn bản
    văn học là NHÂN VẬT và SỰ KIỆN
    (BIẾN CỐ). Mỗi hành động có cả một
    chuỗi các chi tiết
    - Tuy nhiên, cần lưu ý khái niệm sự kiện,
    không phải hành động nào cũng được coi là
    sự kiện, sự kiện phải là hành vi (việc làm
    của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với
    nhân vật dẫn đến hậu quả, làm biến đổi hay
    bộc lộ ý nghĩa nào đó)
    Ví dụ: Sự kiện Cám và Tấm đi bắt tép bao
    gồm một chuỗi các chi tiết: Cám lừa Tấm
    đi gội đầu, Cám trút giỏ tép của Tấm sang
    giỏ của mình, Cám được cái yếm đỏ,…Sự

    kiện này mang đến ý nghĩa: Không phải vì
    Cám ham mê chiếc yếm đỏ (bởi Cám đâu
    có thiếu thốn gì?) mà chính sự kiện này đã
    nhấn mạnh sự đối nghịch giữa Tấm và Cám
    giữa hai phe thiện và ác mà mục đích của
    tác giả dân gian trong truyện Cổ tích là phải
    làm sao để nổi bật sự đối nghịch giữa hai
    phe.
    2. Cốt truyện
    - Khái niệm: Cốt truyện trong tác phẩm tự
    sự (thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn,
    tiểu thuyết,…) và kịch được tạo nên bởi
    chuỗi sự kiện, nằm dưới lớp vỏ trần thuật,
    làm nên cái sườn của tác phẩm.
    - Tính chất cốt truyện: Cốt truyện có hai
    tính chất cơ bản
    + Các sự kiện trong chuỗi có mỗi quan hệ
    nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa, có
    mở đầu và có kết thúc
    + Cốt truyện có tính liên tục về thơi gian.
    Giữa các sự kiện nhân quả nói trên có
    những khoảng cách thời gian. Các khoảng
    cách thời gian ấy tạo thành “không gian”
    quan trọng để tác giả miêu tả, phân tích,
    bình luận
    - Chức năng cốt truyện: Thực hiện chức

    năng rất quan trọng trong truyện kể
    + Gắn kết các sự kiện thành một chuỗi, tạo
    thành lịch sử của một nhân vật, thực hiện
    việc khắc họa nhân vật
    + Bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con
    người (xã hội, tâm lí, đạo đức…), tái hiện
    bức tranh đời sống
    + Tạo ra ý nghĩa nhân sinh có giá trị nhận
    thức
    + Gây hấp dẫn cho người đọc (người đọc
    luôn quan tâm đến số phận nhân vật)
    3. Người kể chuyện
    NGƯỜI KỂ CHUYỆN (người trần thuật)
    là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là vai
    do nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện
    hành vi trần thuật. Người kể chuyện có thể
    được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ hai
    hoặc ngôi thứ nhất
    + Ngôi thứ nhất: Người kể xưng “tôi”, nội
    dung kể không xâm phạm ra ngoài phạm vi
    hiểu biết, cảm nhận của người kể
    + Ngôi thứ hai: Hiếm gặp, thường mượn
    vai bạn đọc (Ví dụ: Tác phẩm "Ngôi trường
    mọi khi" của Nguyễn Nhật Ánh là một ví
    dụ về cách kể theo ngôi thứ hai này: Để đọc

    câu chuyện này bạn bắt buộc phải tưởng
    tượng. Nếu là con gái, bạn tưởng tượng ít
    thôi. Nếu là con trai, bạn phải tưởng tượng
    khủng khiếp hơn nhiều)
    + Ngôi thứ ba: Người kể giấu mình, cho
    phép xâm nhập vào thế giới nội tâm, suy
    nghĩ và hành động của các nhân vật
    4. Nhân vật
    - Khái niệm
    + “Con người là điều thú vị nhất đối với
    con người, và con người cũng chỉ hứng thú
    với con người” (Nhà văn hào Đức
    W.Goethe)
    + Con người là nội dung quan trọng nhất
    của văn học
    🡺 Nhân vật là con người cụ thể được khắc
    họa trong tác phẩm văn học bằng các biện
    pháp nghệ thuật. Nhân vật được nhà văn
    nhận thức, tái tạo có thể là thần linh, loài
    vật, đồ vật,… nhưng khi ấy, chúng vẫn đại
    diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay
    khát vọng của con người. Nhân vật là
    phương tiện để văn học khám phá và cắt
    nghĩa về con người.
    - Đặc trưng

    + Nhân vật dưới mọi hình thức đều có tích
    cách. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể
    hiện những cá nhân xã hội nhất định và
    quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách
    khác, nhân vật là phương tiện thể hiện các
    tính cách, số phận con người và các quan
    niệm về chúng.
    + Ý nghĩa nhân vật không chỉ thể hiện ở
    tính cách. Vì mỗi tính cách là kết tinh của
    một môi trường, cho nên nhân vật còn dẫn
    dắt ta vào một thế giới đời sống
    - Loại hình nhân vật
    + Nhân vật chính diện – Nhân vật phản
    diện
    + Nhân vật chính – Nhân vật phụ - Nhân
    vật trung tâm
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập

    Phiếu học tập – Phụ lục 2

    Giáo viên giao phiếu học tập – HS II. Thần thoại
    vận dụng những tri thức đã đọc về
    thần thoại để hoàn thành phiếu
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh hoàn thành phiếu
    Thời gian: 10 phút
    Chia sẻ: 3 phút

    1. Khái niệm
    - Thần thoại là một thể loại văn học dân
    gian, một thể sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
    truyền miệng đầu tiên và không tự giác ra
    đời vào giai đoạn xã hội nguyên thủy đã
    phát triển từ hoang dã đến văn minh. Đó là
    một tập hợp những truyện kể dân gian về

    Phản biện và trao đổi: 2 phút
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
    phần tìm hiểu
    Bước 4. Kết luận, nhận định
    Giáo viên chốt những kiến thức cơ
    bản về thể loại thần thoại

    các vị thần, phản ánh quan niệm về thế giới
    tự nhiên và đời sống xã hội thời kì thị tộc,
    bộ lạc, biểu hiện nhu cầu nhận thức và
    những khát vọng tự nhiên về một cuộc sống
    tốt đẹp và có tính nhân bản. Thần thoại là
    minh chứng mở đầu khẳng định bản chất
    của văn học dân gian vừa là văn học vừa là
    văn hóa trong tính nguyên hợp điển hình
    (Giáo trình Văn học dân gian, NXB Giáo
    dục Việt Nam)
    - Thần thoại là truyện kể xa xưa nhất, thể
    hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng
    chinh phục thế giới tự nhiên của con người
    thời nguyên thủy
    2. Nguồn gốc và phân loại
    - Thần thoại suy nguyên: Kể về nguồn
    gốc của vũ trụ và muôn loài
    - Thần thoại sáng tạo: Kể về cuộc chinh
    phục thiên nhiên và sáng tạo văn hóa
    3. Đặc trưng
    - Tính nguyên hợp: Vừa là văn học vừa là
    văn hóa. Những tác phẩm văn học có trước,
    theo đó các yếu tố tín ngưỡng, phong tục,
    tập quán và nói chung là lối sống mới từ đó
    hình thành. Tư duy suy nguyên thần thoại
    với sự tham gia của trí tưởng tượng hoang

    đường thời kì đầu tiên đã chắp cánh cho
    những giấc mơ thần thoại đời sau trở nên
    tràn đầy khát vọng. Hai thế giới thực tại
    thiêng liêng bên cạnh thế giới của những
    anh hùng thần linh khác.
    - Cốt truyện đơn giản: Đơn tuyến, tập
    trung vào một nhân vật hoặc một tổ hợp
    nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ
    thần thoại”)
    - Nhân vật trung tâm là các vị thần,
    những con người có nguồn gốc thần linh,
    siêu nhiên với hình dạng khổng lồ và sức
    mạnh phi thường. Chức năng của nhân vật
    trong thần thoại là cắt nghĩa, lí giải các hiện
    tượng tự nhiên và đời sống xã hội, thể hiện
    niềm tin của con người cổ sơ cũng như khát
    vọng tinh thần có ý nghĩa lâu dài của nhân
    loại
    - Nghệ thuật: Không gian vũ trụ, nhiều cõi,
    thời gian phiếm chỉ, ước lệ, tư duy hồn
    nhiên, tính lãng manh, bay bổng.
    3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
    a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào các truyện kể đã học hoặc tự chọn một truyện
    kể yêu thích để phân tích các yếu tố, đặc trưng của truyện kể được thể hiện trong
    truyện.

    b. Nội dung thực hiện
    HS đọc truyện kể và chia sẻ về các đặc trưng của truyện kể theo tri thức Ngữ văn
    với các bạn trong lớp.
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
    Giáo viên giao nhiệm vụ
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh thực hiện đọc và ghi lại
    các đặc trưng được thể hiện trong
    truyện

    GV và HS có thể tham khảo một số
    truyện kể sau
    - Mây trắng còn bay (Bảo Ninh)
    - Truyện về nữ thần Demeter (Thần thoại
    Hi Lạp)
    (Tham khảo truyện phần phụ lục 4)

    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh trình bày phần bài làm
    của mình
    Bước 4. Kết luận, nhận định
    GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
    các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo

    4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
    a. Mục tiêu hoạt động: Hình dung và phác họa về hình ảnh của các vị thần sáng
    tạo thế giới
    b. Nội dung thực hiện: HS viết, vẽ hoặc lập sơ đồ tư duy ghi lại những tưởng
    tượng của mình về các vị thần sáng tạo ra Trái đất
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập

    HS sáng tạo theo hiểu biết và trí tưởng
    tượng của cá nhân

    Giáo viên giao nhiệm vụ
    Học sinh thảo luận và thực hiện
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh thực hiện vẽ, viết hoặc lập
    sơ đồ tư duy
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh trình bày phần bài làm
    của mình
    Bước 4. Kết luận, nhận định
    GV chốt lại các chia sẻ, lựa chọn
    các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo

    Phụ lục 1. Phiếu học tập tìm hiểu về truyện kể

    Phụ lục 2. Phiếu học tập tìm hiểu về thể loại thần thoại

    Phụ lục 3. Rubic đánh giá hoạt động nhóm tìm hiểu về truyện kể
    TIÊU CHÍ

    CẦN CỐ GẮNG

    ĐÃ LÀM TỐT

    RẤT XUẤT SẮC

    (0 – 4 điểm)
    (5 – 7 điểm)
    0 điểm

    (8 – 10 điểm)

    1 điểm

    2 điểm

    Bài làm còn sơ Bài làm tương đối đẩy Bài làm tương đối
    sài, trình bày cẩu đủ, chỉn chu
    Hình thức
    (2 điểm)

    thả
    Sai lỗi chính tả

    đẩy đủ, chỉn chu

    Trình bày cẩn thận

    Trình bày cẩn thận

    Không có lỗi chính tả

    Không có lỗi chính
    tả
    Có sự sáng tạo

    1 - 3 điểm

    4 – 5 điểm

    6 điểm

    Chưa trả lơi đúng Trả lời tương đối đầy Trả lời tương đối
    câu hỏi trọng tâm
    Nội dung
    (6 điểm)

    đủ các câu hỏi gợi dẫn

    Không trả lời đủ Trả lời đúng trọng tâm
    hết các câu hỏi
    gợi dẫn

    Có ít nhất 1 – 2 ý mở
    rộng nâng cao

    (2 điểm)

    Trả lời đúng trọng
    tâm
    Có nhiều hơn 2 ý

    mới dừng lại ở

    mở rộng nâng cao
    Có sự sáng tạo

    nhận diện

    nhóm

    gợi dẫn

    Nội dung sơ sài
    mức độ biết và

    Hiệu quả

    đầy đủ các câu hỏi

    0 điểm

    1 điểm

    2 điểm

    Các thành viên Hoạt động tương đối Hoạt động gắn kết
    chưa gắn kết chặt gắn kết, có tranh luận
    chẽ

    nhưng

    vẫn

    đi

    đến

    Có sự đồng thuận và
    nhiều ý tưởng khác

    Vẫn còn trên 2 thông nhát
    thành viên không
    tham
    động

    gia

    hoạt

    biệt, sáng tạo

    Vẫn còn 1 thành viên Toàn bộ thành viên
    không tham gia hoạt đều tham gia hoạt
    động

    động

    Điểm
    TỔNG

    Phụ lục 4.1 Mây trắng còn bay – Bảo Ninh
    Máy bay cất cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình
    thường dội độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý
    nên trả vé, đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.
    Máy bay hẫng một cái như hụt bước. Tay vận complet ngồi bên cạnh tôi mặt nhợt
    đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế.
    Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc càng sâu thẳm.
    - Mây ngay ngoài, các bác kìa! - bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu
    lên.
    Chiếc TU đã lấy được độ cao cần thiết, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt
    lưng an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.
    - Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được - Bà cụ nói - Y thể cây lá ngoài
    vườn.
    Tay vận complet nhấc mi mắt lên. Môi y mím chặt, vẻ căng thẳng đổi thành quàu
    quạu.
    - Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ?
    Tay nọ làm thinh.

    - Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?
    Không được trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong
    lòng một chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân
    ghế. Khi cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ
    ăn. Bà bảo cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng
    hồi sớm, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích
    để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn này đã được tính gộp trong tiền vé.
    - Thảo nào hai lượt tàu bay những triệu bạc - bà cụ nói - Vậy mà lúc biếu già tấm
    vé các chú không quân cùng đơn vị với con trai già ngày nọ bảo là tốn có trăm
    ngàn. Các chú ấy cho già thì có, chứ còn tính ở quê đừng nói triệu với trăm ngàn,
    ngàn với trăm cũng khó.
    Bà cụ hạ chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp
    thứ gói trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta
    mang đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên:
    - Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?
    - Dạ thưa - Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay - Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa
    cụ vì chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng
    trời vĩ tuyến 17.
    - Lát qua đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.
    - Ấy chết, mở thế nào được ạ. Cô gái bật cười.
    Ngoài cửa sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ trong chốc lát. Trên
    rất cao này, trời vẫn còn mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa
    chuyến nào thấy mệt như chuyến này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở miền
    trung nên không trung đầy rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và
    dưới sàn khe khẽ phát ra những tiếng răng rắc như sắp rạn.

    Tay vận complet xoè diêm châm thuốc. Là dân nghiện nhưng lúc này tôi thấy gai
    với khói. Lẽ ra y nên xuống phía dưới mà thả khí chứ chẳng nên phớt lờ hàng chữ
    “không hút thuốc” sáng nay trước mũi y như vậy, tôi sẽ uể oải thầm nghĩ, đậy tờ
    báo lên mặt và nhắm mắt lại. Giấc ngủ thiu thiu chầm chậm trườn tới.
    - Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!
    Tôi giật bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi
    cạnh tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của
    nỗi hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi
    liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già, cả ô cửa sổ.
    - Này, cô kia, cô nhân viên! - Y sang trọng đứng dậy mắng - Tới mà nhìn! Đây là
    hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?
    - Van bác... - Bà cụ sợ sệt - Bác ơi, van bác... Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng cả
    nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất.
    Tay nọ gần như bước xéo lên đùi tôi, xấn ra lối đi. Bộ mặt hồng hào bừng bừng
    giận dữ và khinh miệt.
    Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc
    bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm
    trong chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để
    dựng vào thành cốc.
    Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt
    một lời, cô lặng nhìn.
    Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn
    thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái
    khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công
    trong ảnh còn rất trẻ.

    Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh
    của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm toả hương thơm ngát. Ngoài
    cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng.
    Phụ lục 4.2 Truyện kể về nữ thần Detemer – Thần thoại Hi Lạp
    Demeter là ai?
    Nữ thần Déméter trong thế giới thần thoại Hy Lạp cổ đại tuy không có sức mạnh và
    quyền thế lớn lao như Zeus, Héra, Poseidon, Hadès nhưng lại được người xưa hết
    sức trọng vọng, sùng kính. Có lẽ sau vị thần Thợ rèn-Héphaïstos thì Déméter là vị
    thần không gây cho người trần thế một tai họa nào mà chỉ ban cho họ biết bao
    nhiêu phúc lợi. Cũng phải nhắc đến nữ thần Hestia cho khỏi bất công. Nàng cũng
    không hề gieo một tai họa nào xuống cho những người trần thế song nàng cũng
    không đem lại cho họ những phúc lợi lớn lao. Nàng là vị thần của bếp lửa gia đình.
    Demeter đi tìm con gái
    Nữ thần Déméter có một người con gái duy nhất tên là Perséphone, người con gái
    đẹp nhất trong số các thiếu nữ con cái của các vị thần. Đó là con của Déméter với
    Zeus. Chuyện người con gái của Déméter là nàng Perséphone bị thần Hadès bắt cóc
    đưa xuống dưới âm phủ làm vợ đã gây nên bao đau khổ cho Déméter và bao rối
    loạn cho đời sống các thần trên đỉnh Olympia cũng như người trần thế. May thay
    cuối cùng nhờ đấng chí tôn, chí kính, chí công minh Zeus phân xử, cho nên mọi
    việc mới trở lại hài hòa, êm thấm. Mặc dù Hades đã cho Perséphone ăn 6 hạt lựu
    nhưng cuối cùng Demeter cũng được ở bên cạnh con mình 6 tháng (là 6 tháng mùa
    xuân) sau đó Perséphone phải về sống cùng Hades ở dưới địa ngục 6 tháng (6 tháng
    mùa đông).
    Và sự việc đã diễn ra chỉ trong nháy mắt, bởi vì từ khi được thần Zeus ưng chuẩn,
    Hadès ngày đêm theo dõi từng bước đi của Perséphone. Được biết Perséphone cùng
    bạn bè đang say sưa vui chơi trong thung lũng đầy hoa thơm cỏ lạ, thần Hadès tức

    tốc đến ngay gặp nữ thần Đất - Gaia vĩ đại, xin nữ thần cho mọc lên ở chỗ
    Perséphone đang vui chơi một bông hoa cực kỳ đẹp đẽ và thơm ngát. Nữ thần ĐấtGaia làm theo lời thỉnh cầu của Hadès.
    Perséphone đang vui chơi bỗng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt từ một cây hoa
    nom rất lạ, xưa nay nàng chưa từng trông thấy. Nàng đi đến gần và đưa tay ra vin
    cành hoa xuống ngắt. Bỗng nàng thấy người hẫng đi một cái như khi sa chân xuống
    một vũng lội. Thần Hadès đã làm cho đất nứt ra ở dưới chân nàng. Và nàng rơi
    xuống lòng đất đen trong vòng tay của Hadès. Perséphone chỉ kịp thét lên một tiếng
    kinh hoàng. Mặt đất nứt lại khép kín vào, lành lặn như cũ. Thần Hadès bế
    Perséphone lên cỗ xe ngựa của mình, cỗ xe có những con ngựa đen bóng nhưng từ
    bánh xe cho đến càng xe đều bằng vàng sáng chói hay bằng đồng đỏ rực. Và chỉ
    trong nháy mắt cỗ xe đã đưa nàng Perséphone về cung điện của thần Hadès. Thế là
    thần Hadès được một người vợ và nữ thần Déméter mất cô con gái yêu dấu, xinh
    đẹp.
    Tiếng thét kinh hoàng của Perséphone dội vang đến tận trời cao. Ở cung điện
    Olympe nữ thần Déméter nghe thấy tiếng thét ấy. Cả núi cao, rừng sâu, biển rộng
    nhắc lại tiếng thét ấy như muốn bảo cho Déméter biết chuyện chẳng lành đã xảy ra
    với nàng. Nghe tiếng thét của con, Déméter rụng rời cả chân tay. Nàng vội vã rời
    ngay cung điện Olympe xuống trần tìm con. Như một con đại bàng, giống chim bay
    nhanh nhất trong các loài chim, Déméter từ trời cao lướt xuống, đi tìm con khắp
    mặt biển rộng, khắp mặt đất đai, khắp các ngọn núi cao, khắp các cánh rừng sâu.
    Nàng gọi con đến khản hơi, mất tiếng: “Per... sé... phone...!” “Per... sé... phone...!”
    Nhưng đáp lại tiếng gọi của nàng chỉ là những tiếng “Per... sé... phone...!” vang
    vọng, buồn thảm. Déméter đi tìm con suốt chín ngày, chín đêm. Chín ngày không
    ăn, chín đêm không ngủ và cũng không tắm gội chải đầu, chải tóc khiến cho thân
    hình nàng tiều tụy, hao mòn. Chín ngày không ăn, chín đêm không ngủ, Déméter
    cứ đi lang thang hết nơi này đến nơi khác gọi con, kêu gào than khóc vật vã. Nàng

    hỏi rừng cây, rừng cây lắc đầu trả lời không biết. Nàng hỏi núi cao, núi cao cũng
    ngơ ngác không biết nói gì. Nàng hỏi biển khơi thì biển khơi trả lời nàng bằng
    những tiếng thở dài thương cảm. Còn đất đen thì im lặng nhìn nàng, thấm khô
    những dòng nước mắt xót xa, đau khổ của nàng đang lã chã tuôn rơi. Cả đến những
    tiên nữ Nymphe cùng dạo chơi với Perséphone buổi sáng đẹp trời hôm ấy cũng
    không biết gì hơn ngoài việc nghe thấy tiếng thét kinh hoàng của Perséphone.
    Chín ngày chín đêm như thế... Déméter với tấm lòng của một người mẹ chẳng quản
    ngại vất vả gian lao đã đi tìm đứa con gái yêu dấu, độc nhất của mình. Sang ngày
    thứ mười, khi cỗ xe của thần Mặt trời-Hélios đã bỏ lại sau lưng biển khơi không
    sinh nở, thì thần Hélios động mối từ tâm bèn gọi Déméter lại và kể cho nàng biết
    đầu đuôi câu chuyện vừa qua, bởi vì không có chuyện gì xảy ra ở trên mặt đất này
    mà không lọt vào con mắt của vị thần Mặt trời, chẳng ai giấu giếm được điều gì với
    vị thần có cỗ xe vàng chói lọi này. (Chính Hélios đã mách cho vị thần Thợ rèn
    Chân thọt biết, cô vợ Aphrodite của anh ta hay đi ngang về tắt với thần Arès).
    Biết chuyện, nữ thần Déméter vô cùng căm tức thần Zeus. Nàng không trở về thế
    giới Olympe để đảm đương công việc của mình nữa. Nàng, từ nay trở đi sẽ sống
    mai danh ẩn tích dưới trần, trong thế giới của những người trần đoản mệnh. Nàng
    thay hình đổi dạng thành một bà già mặc áo đen và cứ thế đi lang thang hết nơi này
    đến nơi khác. Và cho đến một ngày kia nàng đặt chân tới Éleusis.

    TIẾT 2. VĂN BẢN ĐỌC
    TRUYỆN KỂ VỀ CÁC VỊ THẦN SÁNG TẠO THẾ GIỚI
    I. MỤC TIÊU
    1. Về kiến thức

    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
    không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể 
    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ: 
    + Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần Trụ
    Trời, thần Gió, thần Sét 
    + Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
    + Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự nhiên
    thông qua hình ảnh các vị thần. 
    + Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên 
    + Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
    2. Về năng lực:
    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
    diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá được
    sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại.
    ❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
    3. Về phẩm chất: Học sinh có ý thức sống có khát vọng, có hoài bão, và thể hiện
    được trách nhiệm với cộng đồng.
    II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
    1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
    2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
    III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    SẢN PHẨM

    1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ

    a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội
    dung bài học
    b. Nội dung thực hiện:
    ❖ GV cho HS xem video clip 3 vị thần từng gánh cả bầu trời trên lưng trong
    thần thoại (tư liệu đính kèm)
    ❖ HS theo dõi và nêu cảm nhận
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập

    HS có thể trả lời theo các ý sau

    Giáo viên chiếu video, đặt câu hỏi

    - Trình bày câu chuyện về vị thần mà con

    Sau khi xem video con ghi nhớ

    nhớ nhất

    được câu chuyện của vị thần nào? - Lí giải:
    Theo con vì sao con người thuở sơ
    khai lại hình thành nên những câu
    chuyện về những vị thần sáng tạo
    vũ trụ?
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
    Học sinh theo dõi và trả lời câu hỏi

    + Do con người chưa có khoa học kĩ thuật,
    mọi thứ của thế giới tự nhiên luôn mới mẻ,
    lạ lẫm với con người.
    + Tư duy của con người thời khai hoang
    lập địa 🡪 Thế giới là một điều kì bí, mọi vật
    đều có linh hồn, sức sống.

    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh chia sẻ
    Bước 4. Kết luận, nhận định
    Giáo viên chốt ý và dẫn dắt vào bài
    học.
    2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
    a. Mục tiêu hoạt động:

    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về truyện kể, học sinh xác định được thời gian,
    không gian, nhân vật và sự kiện chính của từng truyện kể 
    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại, học sinh sẽ: 
    + Chỉ ra được những nét đặc biệt về hình dạng và tính khí, công việc của thần
    Trụ Trời, thần Gió, thần Sét 
    + Chỉ ra được cơ sở hình thành các vị thần
    + Phân tích được quan niệm, nhận thức của người nguyên thủy về thế giới tự
    nhiên thông qua hình ảnh các vị thần. 
    + Nhận xét thái độ tình cảm của người xưa với thế giới tự nhiên 
    + Đánh giá được nét nổi bật trong việc xây dựng hình tượng các vị thần
    ❖ Học sinh vận dụng tri thức về thần thoại và trải nghiệm văn học, học sinh sẽ
    diễn giải và bình luận được quan điểm “vạn vật có linh hồn” và đánh giá
    được sức hấp dẫn của niềm tin ấy với con người hiện đại
    ❖ Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học
    b. Nội dung thực hiện:
    ❖ Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
    khác nhau
    ❖ Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học tập
    Giáo viên chia lớp thành 6 nhóm
    Mỗi nhóm lựa chọn hình thức
    trình bày sản phẩm
    + Nhóm họa sĩ: Phác họa hình ảnh

    1. Thời gian, không gian, nhân vật và sự
    kiện chính của truyện kể
    a. Thần Trụ Trời
    - Thời gian: Thưở ấy chưa có vũ trụ, chưa
    có muôn vật và loài người

    các vị thần và các năng lực của các - Không gian: Trời đất là đám hỗn độn, tối
    vị thần

    tăm và lạnh lẽo

    + Nhóm nhạc sĩ: Sáng tác một bài - Nhân vật: Thần Trụ Trời
    hát/bài rap giới thiệu về các vị thần
    + Nhóm tâm linh: Tìm hiểu về tín
    ngưỡng thờ cũng và ý nghĩa của
    các vị thần trong văn hóa tâm linh
    người Việt
    + Nhóm văn học: Tìm hiểu về các
    vị thần theo đặc trưng của truyện
    kể: thời gian, không gian, cốt

    - Sự kiện chính:
    + Thần đầu đội trời lên rồi đào đất, đá đắp
    thành cột cao để chống trời
    + Trời cao và khô cứng, thần phá cột, ném
    vung đá và đất khắp nơi 🡪 Núi và cao
    nguyên
    + Chỗ thần đào lên lấy đất đá thành biển

    truyện, nhân vật và người kể. Sau b. Thần Sét
    đó rút ra nhận xét
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

    - Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
    - Không gian: Trên Thiên đình, Dưới hạ

    Học sinh thảo luận và hoàn thành giới
    phiếu

    - Nhân vật: Thần Sét (cũng có khi gọi là

    Thời gian: 10 phút – Hoặc các ông Sấm)
    nhóm đã chuẩn bị trước bài qua
    phần tự học.
    Chia sẻ: 3 phút
    Phản biện và trao đổi: 2 phút
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận
    Học sinh chia sẻ bài làm và báo cáo
    phần tìm hiểu

    - Sự kiện chính:
    + Giới thiệu thần Sét là người chuyên phản
    ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng
    + Một lần thần Sét bị Trời phạt, gà thần của
    Ngọc Hoàng được sai xuống mổ thần Sét
    nhưng không làm gì được.
    + Về sau, thần Sét cứ nghe tiếng gà là giật

    Bước 4. Kết luận, nhận định

    mình

    Giáo viên chốt những kiến thức cơ + Thần Sét đã từng thua Cường Bạo Đại
    bản về nội dung – nghệ thuật các Vương dù sau có chiến thắng cũng khiến
    truyện thần thoại.

    thiên đình một lần xấu hổ
    c. Thần Gió
    - Thời gian: Phiếm chỉ, ước lệ
    - Không gian: Trên Thiên Đình; Dưới hạ
    giới
    - Nhân vật: Thần Gió
    - Sự kiện chính:
    + Giới thiệu về thần Gió
    + Câu chuyện đùa nghịch của con thần Gió
    + Ngọc Hoàng xử tội: Đày con thần Gió
    xuống bắt đi chăn trâu, bắt hóa làm cây
    ngải để báo tin gió cho thiên hạ, khi trâu bị
    cảm gió thì lấy lá cây ngải chữa cho trâu.
    2. Đặc điểm và cơ sở hình thành thần
    Trụ Trời, thần Sét và thần Gió
    a. Thần Trụ Trời
    * Hình dạng
    - Thâ...
     
    Gửi ý kiến