NGU_VAN_12_SKKN_HAY

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: nxhoa - st
Người gửi: Admin Gdtxchonthanh
Ngày gửi: 10h:53' 20-02-2011
Dung lượng: 175.4 KB
Số lượt tải: 153
Nguồn: nxhoa - st
Người gửi: Admin Gdtxchonthanh
Ngày gửi: 10h:53' 20-02-2011
Dung lượng: 175.4 KB
Số lượt tải: 153
Số lượt thích:
0 người
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Những ai quan tâm đến môn Ngữ văn trong trường THPT hẳn đều nhất trí rằng : dạy phân môn Làm văn là một trong những vấn đề làm nhức nhối nhiều người hơn tất cả : vừa khó lại vừa khô, không tạo ra hứng thú thật sự cho học sinh, hạn chế sự tìm tòi, tự nguyện của học sinh đến với phân môn Làm văn.
Xét về bản thân phân môn Làm văn là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, là môn học bộc lộ rõ nét hơn cả nhân cách của học sinh, là môn học xứng đáng được coi là có truyền thống lâu đời nhất trong lịch sử giáo dục nước nhà, lẽ ra phải tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhất, tạo được nhiều hứng thú cho học sinh nhất thì kết quả ngược lại.
Trong thực tế dạy phân môn Làm văn : người dạy hướng học sinh sử dụng thành thạo kiểu làm văn trong nhà trường phổ thông đó là làm văn Nghị luận (Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học). Nhưng đó là một thách thức không nhỏ, xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, người dạy lại đặt ra rất nhiều câu hỏi mà không dễ trả lời :
Tại sao kết quả học làm văn nghị luận của học sinh cứ nghèo nàn và bấp bênh so với những môn học khác ?
Tại sao trong thực tiễn làm bài Làm văn nghị luận học sinh không giải quyết được những khó khăn gặp phải ?
Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng ấy và để khắc phục phần nào trình trạng ấy, tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và mạnh dạn đề ra: Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả trong Ngữ văn 12.
MỤC ĐÍCH, PHƯƠNG PHÁP, GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Mục đích của đề tài là tạo ra cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để người dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả cao, khắc phục việc truyền thụ kiến thức lí thuyết Làm văn khô cứng, tạo nên tâm lí nhàm chán đối với người học. Người dạy Làm văn cần hướng đến mục đích cuối cùng: Là giúp học sinh thể hiện (nói hoặc viết) những suy nghĩ (tư tưởng, quan điểm); tình cảm (vui hay buồn, căm ghét hay yêu thương); thái độ (đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán) của mình trước một hiện tượng đời sống . . . . Có nghĩa là giúp cho học sinh cách nghĩ và cách trình bày suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội tích cực hay hiện tượng tiêu cực.
Phương pháp thực hiện đề tài: mô tả, tái hiện lại đề tài, từ công việc tiếp cận của giáo viên, thiết kế bài dạy đến kết quả áp dụng đề tài tại đơn vị.
Đề tài giới hạn trong phân môn Làm văn. Cụ thể, áp dụng cho kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống (Ngữ văn 12). Đối tượng áp dụng của đề tài là học sinh Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Quá trình dạy học trên lớp tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà giáo viên triển khai linh hoạt các bước lên lớp và sáng tạo ra các tình huống dạy học, xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, để đạt hiệu quả cao nhất là học sinh nắm vững kiến thức và rèn luyện tốt kĩ năng thực hành.
Để xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, linh hoạt và sáng tạo đạt hiệu quả cao cần xác định kĩ ba vấn đề.
Vấn đề thứ nhất : Đối tượng học sinh của tôi đang nghiên cứu là bổ túc Trung học phổ thông, có những đặc điểm riêng như :
Nhiều độ tuổi khác nhau, đối tượng học sinh phân luồng sau Trung học phổ thông.
Nghỉ học lâu năm, lâu ngày, kiến thức không liên tục, chắp nối.
Học sinh đa số học lực yếu, kém.
Vấn đề thứ hai : Phân môn Làm văn có đặc thù riêng : là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, nghĩa là vừa có tính lý thuyết vừa rèn luyện kĩ năng thực hành cao, đòi hỏi học sinh phải biết tích hợp kiến thức nhiều môn học khác nhau như Văn học, Tiếng việt, . . . . nhiều kênh thông tin khác nhau để vận dụng trong kĩ năng thực hành làm văn, viết (nói) bài làm văn nghị luận. Vì vậy, từ mức độ ấy đòi hỏi tâm lí tiếp nhận của người học rất quan trọng.
Vấn đề thứ ba : Trong thực tiễn sống, con người thường thấy hiện ra trước mắt mình những câu hỏi, những băn khoăn mà mình vẫn muốn, vẫn chờ mong được giải đáp, nhưng lại khó
ĐẶT VẤN ĐỀ
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Những ai quan tâm đến môn Ngữ văn trong trường THPT hẳn đều nhất trí rằng : dạy phân môn Làm văn là một trong những vấn đề làm nhức nhối nhiều người hơn tất cả : vừa khó lại vừa khô, không tạo ra hứng thú thật sự cho học sinh, hạn chế sự tìm tòi, tự nguyện của học sinh đến với phân môn Làm văn.
Xét về bản thân phân môn Làm văn là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, là môn học bộc lộ rõ nét hơn cả nhân cách của học sinh, là môn học xứng đáng được coi là có truyền thống lâu đời nhất trong lịch sử giáo dục nước nhà, lẽ ra phải tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhất, tạo được nhiều hứng thú cho học sinh nhất thì kết quả ngược lại.
Trong thực tế dạy phân môn Làm văn : người dạy hướng học sinh sử dụng thành thạo kiểu làm văn trong nhà trường phổ thông đó là làm văn Nghị luận (Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học). Nhưng đó là một thách thức không nhỏ, xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, người dạy lại đặt ra rất nhiều câu hỏi mà không dễ trả lời :
Tại sao kết quả học làm văn nghị luận của học sinh cứ nghèo nàn và bấp bênh so với những môn học khác ?
Tại sao trong thực tiễn làm bài Làm văn nghị luận học sinh không giải quyết được những khó khăn gặp phải ?
Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng ấy và để khắc phục phần nào trình trạng ấy, tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và mạnh dạn đề ra: Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả trong Ngữ văn 12.
MỤC ĐÍCH, PHƯƠNG PHÁP, GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Mục đích của đề tài là tạo ra cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để người dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả cao, khắc phục việc truyền thụ kiến thức lí thuyết Làm văn khô cứng, tạo nên tâm lí nhàm chán đối với người học. Người dạy Làm văn cần hướng đến mục đích cuối cùng: Là giúp học sinh thể hiện (nói hoặc viết) những suy nghĩ (tư tưởng, quan điểm); tình cảm (vui hay buồn, căm ghét hay yêu thương); thái độ (đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán) của mình trước một hiện tượng đời sống . . . . Có nghĩa là giúp cho học sinh cách nghĩ và cách trình bày suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội tích cực hay hiện tượng tiêu cực.
Phương pháp thực hiện đề tài: mô tả, tái hiện lại đề tài, từ công việc tiếp cận của giáo viên, thiết kế bài dạy đến kết quả áp dụng đề tài tại đơn vị.
Đề tài giới hạn trong phân môn Làm văn. Cụ thể, áp dụng cho kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống (Ngữ văn 12). Đối tượng áp dụng của đề tài là học sinh Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Quá trình dạy học trên lớp tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà giáo viên triển khai linh hoạt các bước lên lớp và sáng tạo ra các tình huống dạy học, xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, để đạt hiệu quả cao nhất là học sinh nắm vững kiến thức và rèn luyện tốt kĩ năng thực hành.
Để xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, linh hoạt và sáng tạo đạt hiệu quả cao cần xác định kĩ ba vấn đề.
Vấn đề thứ nhất : Đối tượng học sinh của tôi đang nghiên cứu là bổ túc Trung học phổ thông, có những đặc điểm riêng như :
Nhiều độ tuổi khác nhau, đối tượng học sinh phân luồng sau Trung học phổ thông.
Nghỉ học lâu năm, lâu ngày, kiến thức không liên tục, chắp nối.
Học sinh đa số học lực yếu, kém.
Vấn đề thứ hai : Phân môn Làm văn có đặc thù riêng : là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, nghĩa là vừa có tính lý thuyết vừa rèn luyện kĩ năng thực hành cao, đòi hỏi học sinh phải biết tích hợp kiến thức nhiều môn học khác nhau như Văn học, Tiếng việt, . . . . nhiều kênh thông tin khác nhau để vận dụng trong kĩ năng thực hành làm văn, viết (nói) bài làm văn nghị luận. Vì vậy, từ mức độ ấy đòi hỏi tâm lí tiếp nhận của người học rất quan trọng.
Vấn đề thứ ba : Trong thực tiễn sống, con người thường thấy hiện ra trước mắt mình những câu hỏi, những băn khoăn mà mình vẫn muốn, vẫn chờ mong được giải đáp, nhưng lại khó
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất